Chua Cam Lo

Phật pháp căn bản

Xuất gia báo hiếu trong Phật giáo Nam tông Khmer

GN - Xuất gia báo hiếu là một nét đẹp truyền thống lâu đời của người Khmer Nam Bộ. Lễ nhập tu báo hiếu này thường được tổ chức vào khoảng thời gian trước hoặc sau Tết Chôl Chnăm Thmây.

vanhoakhmer1.jpg


Theo phong tục của người Khmer Nam Bộ, nam thanh niên 16 tuổi trở lên thường vào chùa xuất gia tu học từ một đến vài năm. Tuy nhiên, chuyện vào chùa tu là điều không bắt buộc, họ có thể tu vào lúc nào đó thích hợp và muốn tu một hay nhiều năm đều được. 

Theo HT.Danh Lung, việc đi tu báo hiếu cho ông bà, cha mẹ là một nét đẹp trong cộng đồng Phật tử trẻ Khmer; bên cạnh đó, một điều không kém phần quan trọng, là chỉ những thanh niên từng tu tập ở chùa mới dễ có cơ hội… lấy vợ. Các cô gái và gia đình họ chỉ ưng những chàng trai đã từng trải nghiệm đời sống xuất gia. 

vanhoakhmer3.jpg


Trong văn hóa của người Khmer Nam Bộ, xuất gia có nhiều hình thức, trong đó nếu vì đức tin và hoan hỷ đối với Tam bảo, Phật pháp thì người xuất gia sẽ phát nguyện thực hành đời sống phạm hạnh suốt đời. Bên cạnh đó, nhiều người xuất gia vì mục đích báo hiếu cha mẹ, thời gian tu tập lâu hay mau tùy vào sự phát tâm của mỗi người. 

vanhoakhmer4.jpg


Cộng đồng người Khmer chịu ảnh hưởng mạnh về tín ngưỡng dân gian cùng với tín ngưỡng Bà-la-môn giáo và Phật giáo. Trong đó, đáng kể nhất là Phật giáo, văn hóa Phật giáo đã chi phối hầu hết hoạt động sống của người Khmer. Họ tin rằng, theo lời Phật dạy, không có việc báo hiếu nào bằng việc đi tu để đền đáp công ơn sanh thành dưỡng dục. Việc tu tập như thế sẽ có một năng lực không nhỏ tác động đến người tập tu, giúp họ giữ gìn giới luật một cách trang nghiêm thanh tịnh, chí ít là giữ được thập giới. Bên cạnh đó, nhờ các vị thầy tế độ hướng dẫn, họ được rèn luyện, trau dồi về đạo đức nên sẽ được chuyển hóa những tập khí từ dữ sang lành. Tất cả công đức của thiện nghiệp đó họ đều hồi hướng đến ông bà, cha mẹ. 

vanhoakhmer5.jpg


Khi người con trai nào muốn vào chùa tập tu, vài tháng trước ngày lễ, họ đã phải xin phép cha mẹ đến chùa để học thuộc những bài kinh cơ bản. Trước lễ chính thức một ngày, họ được các sư làm lễ thế phát (cạo đầu), thay quần bằng chiếc xà-rông, thay áo bằng một tấm khăn vải trắng khoác lên vai từ trái sang phải. Tấm vải trắng mới này được gọi là Pênexo, một khi khoác tấm vải trắng này tức là anh ta đã từ bỏ thế tục. Trong thời gian này, gia đình người có con đi tu cũng mời chư Tăng về nhà họ để tụng kinh, cúng dường, làm lễ quy y. Bà con lối xóm của họ đều đến tham dự, họ gửi lời chúc tốt đẹp đến người con xuất gia, và người này cũng nói lời chia tay với bà con, bạn bè… 

Việc đi tu báo hiếu sẽ tạo niềm vui cho các bậc cha mẹ, làm cho cha mẹ tự hào với hàng xóm của mình. Trong mắt xóm giềng, gia đình họ là gia đình có văn hóa, nề nếp, có thuần phong mỹ tục, biết rèn luyện giáo dục con cháu thành người tốt. Do đó, hầu hết các gia đình Khmer đều mong ước có một người con đi tu. Cộng đồng Khmer cũng tin rằng qua thời gian ở chùa, người con trai sẽ được rèn luyện về mặt đạo đức và trở thành người tốt trong xã hội. 

vanhoakhmer2.jpg


Ngày nay, việc đi tu báo hiếu trong cộng đồng Khmer tuy có giảm sút, song việc tu gieo duyên một lần trong đời người con trai vẫn được xã hội coi trọng. Một người nam giới, cho dù có địa vị hay học thức cao, nhưng nếu chưa một lần vào chùa thì vẫn không thực sự được xem là người trưởng thành. 

Chia sẻ sau lễ xuất gia báo hiếu tại chùa Candaransì (Q.3, TP.HCM), sư Thọ - sinh viên năm nhất của trường Đại học Công nghệ TP.HCM, cho biết: “Nhờ việc xuất gia báo hiếu, dù chỉ mới hơn một tháng, mà giờ đây tôi đã hiểu được khá rõ về Phật giáo, xen lẫn đó là những giáo lý của Đức Phật, làm cho thân tâm tôi trở nên thanh tịnh, vui vẻ hơn. Hiện tại, việc đi học của tôi cũng rất thuận lợi, được sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè trong trường nên tất cả đều rất tốt”. 

vanhoakhmer6.jpg


Ý nghĩa đặc biệt của việc xuất gia báo hiếu là đi tu không phải để trở thành Phật mà để thành người. Theo quan niệm của người Khmer trước kia và bây giờ, việc tu là chuẩn bị cho người thanh niên có đủ đạo đức, kiến thức, lòng nhân ái để sau khi rời chùa sẽ biết cách xây dựng một cuộc sống tốt đẹp, ý nghĩa.

Bài: Vũ Giang ẢnhHuỳnh Phúc Hậu

 

Cần hiểu đúng về pháp quy y Tam bảo

GN - HỎI: Tôi năm nay đang học lớp 12, là học sinh giỏi. Gần đây, ở quê tôi có một ngôi chùa mới mở, tôi có đến chùa tham dự lễ. Khi đến chùa, tôi thấy tâm mình rất thanh tịnh, mọi lo âu cũng như áp lực cuộc sống đều tan biến. Tôi phát khởi tâm quy y Tam bảo làm Phật tử tại gia và được thầy ở chùa đó đồng ý. Tuy nhiên bố mẹ tôi lại không đồng ý.

Bố mẹ tôi nói rằng: Thứ nhất, chỉ khi nào già thì mới nên đi chùa. Thứ hai, sợ tôi lên đại học thì không theo được, mà bỏ đạo thì bị phạt nặng lắm. Thứ ba, sợ tôi quy y mà không làm đúng điều Phật dạy thì sẽ bị phạt còn nặng hơn không quy y. Tôi phải giải thích với bố mẹ như thế nào? Mong quý Báo giúp tôi, vì thực sự tôi rất muốn quy y.

(THANH MINH, Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. )

ĐÁP:

Bạn Thanh Minh thân mến!

Bạn đến chùa mà “thấy tâm mình rất thanh tịnh, mọi lo âu cũng như áp lực cuộc sống đều tan biến”, rồi “phát khởi tâm quy y Tam bảo làm Phật tử tại gia và được thầy ở chùa đó đồng ý” là bạn có nhiều căn lành. Nếu bạn biết nương vào căn lành này để hướng Phật, tự hoàn thiện mình thì chắc chắn sẽ gặt hái nhiều phước đức và thành công trong cuộc sống.

Ở tuổi bạn, trước khi phát tâm quy y Tam bảo, làm người Phật tử tại gia, bạn xin phép bố mẹ là điều cần thiết. Tiếc rằng, bố mẹ của bạn chưa hiểu rõ và đúng về pháp quy y nên chưa đồng ý. Bạn cần bình tâm, tìm cơ hội tâm tình để bố mẹ bạn hiểu đúng về pháp quy y Tam bảo mà trợ duyên cho bạn được toại nguyện.

Trước hết, quan niệm “chỉ khi nào già thì mới nên đi chùa” thực sự chưa đúng. Cần phải điều chỉnh lại là: Đi chùa càng sớm thì càng tốt! Vì sao? Đi chùa, quy y Tam bảo là nguyện nương theo Phật-Pháp-Tăng để học theo hạnh trí tuệ và từ bi, bỏ ác làm lành,  thanh tịnh thân tâm, vun bồi phước đức, trở thành một Phật tử chân chính, một công dân mẫu mực, sống lợi đạo ích đời. Trong bối cảnh đạo đức của giới trẻ có nhiều biểu hiện suy đồi, tội phạm trong giới trẻ ngày càng gia tăng, việc bạn hướng đến Phật giáo để trau dồi đạo đức, để sống thiện là một tín hiệu lành cho bản thân, gia đình và cả xã hội.

Tuổi trẻ như búp măng, cần phải uốn nắn sớm thì sau tre già mới thẳng. Nếu tuổi trẻ mà không hướng thiện, không tu dưỡng đạo đức thì không lấy gì đảm bảo có tuổi già hạnh phúc, thảnh thơi để đi chùa.

Kế đến, bố mẹ sợ bạn “lên đại học thì không theo được, mà bỏ đạo thì bị phạt nặng lắm”. Sự thật thì người Phật tử học đại học (hay làm bất cứ công việc gì) vẫn làm tròn bổn phận của mình. Sau khi quy y, người Phật tử được khuyến khích giữ năm giới (không giết hại, không trộm cướp, không tà hạnh, không nói dối, không say nghiện), mỗi tháng phát nguyện ăn chay và đi lễ chùa sám hối, cầu an ít nhất là hai ngày 14 và 30 hay 15 và mùng 1 (âm lịch).

Ngoài ra, người Phật tử luôn nỗ lực làm việc thiện để vun bồi phước đức cho mình. Hiện nay, các bạn sinh viên Phật tử vào những ngày cuối tuần tập trung về chùa tham dự các khóa tu và làm việc thiện rất đông. Sau những ngày học tập mệt nhọc, chùa là “sân chơi” lành mạnh, bổ ích được các bạn sinh viên lựa chọn. Nên nói rằng sợ “lên đại học thì không theo được” là chưa đúng. Mặt khác, như đã nói, bổn phận tu học của người Phật tử cũng đơn giản nên không có vấn đề gì phải bỏ đạo, do vậy không cần phải lo “bỏ đạo thì bị phạt nặng lắm”.

Cuối cùng là “sợ quy y mà không làm đúng điều Phật dạy thì sẽ bị phạt còn nặng hơn không quy y”. Quy y, học theo Phật là nguyện tự sửa mình, giúp mình ngày càng hoàn thiện hơn. Nếu không tự sửa mình, không sống theo lời Phật dạy, quen theo tập nghiệp làm những điều xấu ác thì chịu hậu quả. Làm cho mình tốt hơn hay xấu đi là do mình. Phật là Thầy chỉ đường, Ngài không trừng phạt ai cả mà luật nhân quả tự thưởng phạt.

Mặt khác, người có quy y học Phật mà không làm đúng lời Phật vẫn chịu quả báo nhưng khác với người không quy y. Vì ít ra, họ còn sợ tội lỗi, biết ăn năn sám hối và nguyện khắc phục. Còn người không quy y học Phật, không tin hiểu nhân quả, làm sai mà tự mình không biết hay làm sai mà không ai biết thì nghĩ mình hay nên ngày càng lún sâu vào tội lỗi, quả báo nặng nề hơn rất nhiều.

Hy vọng rằng, những sẻ chia này sẽ giúp bố mẹ của bạn hiểu đúng về pháp quy y và nhanh chóng đồng thuận, trợ duyên cho bạn quy Phật, hướng thiện để thành tựu phước đức và gặt hái thành công.

Chúc bạn tinh tấn!

TỔ TƯ VẤN
( Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. "> Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. )

 

DIỄN VĂN PHẬT ĐẢN PL.2560 - DL.2016

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ

____________________________

 

DIỄN VĂN PHẬT ĐẢN PL.2560 - DL.2016

CỦA HÒA THƯỢNG CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

 

Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

 

Kính bạch Chư tôn túc Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức

                            Tăng Ni!

Kính thưa Quý vị cư sĩ, Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài!

Thưa quý liệt vị!

 

Chúng ta đang sống trong những ngày tháng 5 lịch sử, tháng mà hằng triệu Tăng Ni, Tín đồ Phật giáo trên thế giới tưng bừng kính mừng Đại lễ Vesak (Đại lễ Tam hợp), kỷ niệm ngày Đức Phật đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni thuộc xứ Ấn Độ cổ đại, nay là Nepal cách đây 2640 năm về trước. Thời khắc trăng tròn tỏ rạng, Đức Phật đản sinh là một sự kiện trọng đại, thiêng liêng, một sự kiện hy hữu của toàn nhân loại. Ngài là bậc Đạo sư Giác ngộ tỏa ánh sáng năng lượng xóa tan màn vô minh của xã hội phân hóa giai cấp, giàu nghèo và bất công mà căn nguyên bởi tại lòng tham, sân, si của con người. Vì giáo lý trong sáng và toàn bích của Ngài là suối nguồn từ bi, trí tuệ đưa con người đến một đời sống hướng thượng đầy tình yêu thương vô ngã, thấm nhuần hương vị giải thoát giác ngộ. Kinh Nikaya có ghi: "Một chúng sinh duy nhất, một con người phi thường xuất hiện trong thế gian này, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Đó là Đấng Như Lai Chánh đẳng Chánh giác”. Sự kiện Đức Phật đản sinh là bức thông điệp hòa bình, hạnh phúc thương yêu, mở ra con đường mà tự thân mỗi người phải vượt qua sự cám dỗ và chi phối của tham ái để tiến đến cảnh giới giác ngộ, đó chính là con đường tu tập Giới - Định -Tuệ hướng đến sự an lạc, giải thoát là lẽ đích thực và cứu cánh của cuộc sống và cuộc đời hướng thượng.

Hôm nay Tăng Ni, Phật tử Phật giáo Việt Nam long trọng tổ chức Đại lễ kỷ niệm ngày Đức Phật đản sinh PL.2560 – DL.2016 trong niềm hoan hỷ vô biên hướng tới kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981 – 2016), đặc biệt là cùng với nhân dân đồng bào cả nước tích cực tham gia vào kỳ bầu cử Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021 thành công rực rỡ.

 

Nhìn lại chặng đường lịch sử 2000 năm, Phật giáo Việt Nam tự hào thời kỳ vàng son Lý – Trần với những vĩ nhân lịch sử: Vua Lý Công Uẩn và Phật hoàng Trần Nhân Tông và biết bao những vị thiền sư đại trí đã đứng ra giúp nước cứu đời, hộ quốc an dân, quả thật như Đức Phật đã dạy các đệ tử trong Kinh Đại thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán: "Thiện nam tử! Ơn của thế gian và xuất thế gian có bốn bậc: Một là, ơn Cha mẹ; hai là, ơn Tam Bảo; ba là, ơn Quốc vương; bốn là, ơn Chúng sinh. Ơn Quốc vương, vị làm chủ một quốc gia, đất nước, là người có đủ phúc đức tối thắng. Vị ấy là người có phúc đức tối thắng hơn hết thảy phúc đức của chúng sinh. Vị ấy là Đại thánh vương dùng Chính pháp giáo hóa, khiến chúng sinh trong đất nước đều được yên vui. Thánh vương lấy pháp luật trị nước làm lợi ích cho chúng sinh cũng như vậy. Như mặt trời soi sáng thế gian, Thánh vương thường quan sát thiên hạ, đem lại sự yên vui cho nhân dân. Nếu Quốc vương đem Chính pháp giáo hóa, tám sự khủng bố sẽ không xâm nhập vào trong nước được. Đó là sự xâm lược của nước ngoài, phản nghịch trong nước, ác quỷ tật bệnh, đất đai khô hạn, nhân dân thiếu đói, gió mưa trái thời, gió mưa quá thời, nhật thực, nguyệt thực và tinh tú kỳ lạ xuất hiện. Vị Đại thánh vương trong nước, coi quần sinh như con một, tâm ủng hộ họ ngày đêm không rời”. Trong mùa Phật đản năm nay, chúng ta tin tưởng và chào mừng thế hệ Lãnh đạo mới của đất nước sẽ tiếp tục có nhiều động lực tạo cho đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam luôn phát triển ổn định bền vững, thịnh vượng, trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Thưa quý liệt vị!

Kính mừng ngày Đản sinh của Đức Từ Phụ năm nay, Tăng Ni, Phật tử Việt Nam, các Ban, Viện trung ương, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam các cấp tích cực trong công tác Phật sự ích đạo lợi đời, là năm bản lề nỗ lực hoàn thành chương trình Phật sự của Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VII tiến tới Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII vào năm 2017; Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam các tỉnh, thành phố trong cả nước chỉ đạo việc tổ chức Đại hội Phật giáo cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh nhiệm kỳ 2016 – 2021 để chuẩn bị tốt cho công tác tổ chức Đại hội Phật giáo cấp tỉnh, thành phố là một bước đổi mới trong cải cách hành chính Giáo hội.

Trong không khí hân hoan kính mừng ngày Phật đản sinh, tôi cũng mong muốn các cấp Giáo hội, các địa phương sẽ có nhiều hoạt động Phật sự sáng tạo, thiết thực chào mừng kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam và hưởng ứng lời hiệu triệu trong Thông điệp của Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam bằng những kế hoạch và hành động cụ thể tích cực tham gia chương trình đã ký kết với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xây dựng thế giới hòa bình, tịnh lạc cho hành tinh chúng ta nhân ngày Đản sinh của Đấng Từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Kính chúc quý vị một mùa Phật đản vô lượng cát tường, thành tựu viên mãn các Phật sự cũng như thế sự trong hào quang gia hộ của chư Phật.

Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tác đại chứng minh! 

Nguồn: http://giaohoiphatgiaovietnam.vn/

 

Ý NGHĨA PHẬT ĐẢN PL 2560

VÔ NGÃ, HÒA HỢP

LÀ NỀN TẢNG XƯƠNG MINH GIÁO HỘI

 

HT. Thích Bảo Nghiêm

Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN

Trưởng ban Hoằng pháp Trung ương

Sự kiện Đức Phật đản sinh, thành tựu đạo quả và trở thành Đấng Giác ngộ toàn giác là một dấu son lớn trong lịch sử nhân loại. Sự xuất hiện của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là diễm phúc lớn cho xã hội loài người, Ngài là sự kết tinh của muôn ngàn hương hoa từ bi và trí dũng, Ngài là hiện thân của chân lý giải thoát, là điềm lành cho tất cả chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới hay nói cách khác là: "Vì hạnh phúc cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc và an lạc cho chư Thiên và loài người.” (Trung bộ kinh, bài kinh số 4)

            Trong tập kinh Phật Sử (Buddhavamsa) thuộc Tiểu bộ kinh có ghi: Theo thông lệ của chư Phật, chư Bồ-tát khi đản sinh phải quán sát 5 điều kiện:

1. Thời kỳ (Kàla): Tuổi thọ chúng sinh thời này không kém 100 tuổi. Do đó, Ngài xuất hiện ở thời kỳ này và tồn tại đến 80 tuổi rồi vào Niết-bàn.

2. Quốc độ (Desa): Ngài chọn Trung Ấn Độ, ở đó có nhiều sự bất đồng về giai cấp, nghèo khổ, bệnh hoạn luôn là mối đe dọa con người, nhờ thế loài người dễ hướng thiện.

3. Dòng dõi (Kula): Ngài chọn hoàng tộc Sakya. Vì giáng phàm trong dòng dõi cao quý thì việc hoằng pháp sẽ khế lý khế cơ, do đó sẽ có kết quả tốt.

4. Châu (Padìpa): Loài người đang sống và tồn tại ở bốn châu thiên hạ, Ngài chọn Nam thiệm bộ châu vì nơi này họ dễ dàng lĩnh hội giáo lý, tu hành để thành tựu đạo quả.

5. Cha mẹ (Màtara): Đức Phật là thầy của tam giới nên Ngài phải chọn người có đại duyên, đại nguyện với Ngài trong vô lượng kiếp. Vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma Gia (Mahamayadevi), hai vị này đã từng là cha mẹ của Ngài trong nhiều ngàn kiếp nên Ngài chọn hai vị này làm quyến thuộc.

          Từ khi Bồ Tát Hộ Minh thị hiện cõi Sa bà đến thành tựu quả vị Phật và nhập Niết bàn trải qua 26 thế kỷ. Xuyên suốt thời gian ấy, con người đã diễm phúc thọ nhận hồng ân Tam bảo, ba ngôi báu Phật Pháp Tăng không chỉ là niềm tin, chỗ dựa vững chắc, mang những ý nghĩa thiêng liêng thiết thực đối với Tăng Ni, Phật tử mà còn ảnh hưởng tích cực, tác động sâu sắc đến đời sống nhân loại.

          Kỷ niệm ngày đản sinh PL. 2560 còn mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt, bởi hòa trong niềm hỷ lạc vô biên của ngày khánh đản, đó là niềm hân hoan phấn khởi trước những thành tựu và sự phát triển bền vững của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong suốt chặng đường 35 năm thành lập Giáo hội Phật Giáo Việt Nam trên tinh thần đoàn kết hòa hợp.

          Sự kiện thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981 là một bước ngoặt lớn trong trang sử vàng của Phật giáo nước nhà, sự thành tựu đầu tiên đó là thống nhất được các hệ phái hình thành nên Giáo hội Phật giáo Việt Nam, và trong 35 năm qua Phật giáo đã từng bước ổn định phát triển và hòa nhập cùng khắp năm châu.

          Với tinh thần đoàn kết đã hình thành nên một Giáo hội hòa hợp ổn định và phát triển, điều này đã được Đức Phật đề cập trong kinh Đại Bát Niết Bàn: "Này các Tỷ khưu, khi nào các chúng Tỷ khưu tụ tập trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết và làm việc tăng sự trong niệm đoàn kết, thời này các Tỷ khưu, chúng Tỷ khưu sẽ được cường thịnh không bị suy giảm”. Thời đức Phật tại thế, tư tưởng đoàn kết đã được Ngài đặc biệt quan tâm, Ngài luôn nhắc nhở chư Tăng phải luôn đoàn kết trong sinh hoạt hằng ngày cũng như trong mọi Phật sự. Đoàn kết chính là cơ sở để tinh thần hòa hợp thanh tịnh của chư Tăng ngày càng thăng hoa và lan tỏa.

          Từ khi thành tựu đạo quả, để giáo pháp được lưu truyền, Đức Phật đã thành lập nên Tăng đoàn – Chính những vị đệ tử của Ngài đã đem lại một giá trị đạo đức cao quý cho cuộc sống tâm linh nhân loại, ngoài lý tưởng giải thoát chỉ dạy cho hàng đệ tử tu tập, với xã hội Ngài luôn hướng đến một cuộc sống an lạc và hạnh phúc. Bảy pháp bất thoái chuyển không chỉ vì mục đích ngăn ngừa cuộc xâm lăng mà còn vì sự hưng thịnh của một xứ sở trong đó mọi người được sống hạnh phúc và hòa bình. Tất cả mọi quốc gia đều có thể áp dụng bảy phương pháp ấy để được vững mạnh. Trong Trường Bộ kinh Đức Phật đã nêu lên 7 yếu tố đó như sau:

1. Thường hội họp nhau và giải quyết vấn đề chung của quốc gia.

2. Đoàn kết hòa thuận với nhau.

3. Thi hành đúng theo pháp luật chế định.

4. Tôn kính bậc trưởng thượng.

5. Tôn trọng hàng phụ nữ.

6. Bảo tồn các đền thờ trong xứ.

7. Sùng bái các tiền nhân.

Với phương châm lấy trí tuệ làm sự nghiệp, và chính nhờ vào ngọn đuốc trí tuệ của chính pháp mà hàng tứ chúng của Đức Phật luôn lấy đó làm hành trang trên con đường hoằng pháp độ sinh, sống với tinh thần vô ngã và vị tha, tiếp thu văn minh nhân loại theo khuynh hướng hội nhập phát triển có sự chắt lọc. Cốt lõi này thường được các nhà hoằng truyền giáo pháp thể nghiệm gọi là "tùy duyên nhưng bất biến” đã giúp cho Phật giáo tồn tại và phát triển hơn hai ngàn năm qua. Cho đến ngày nay, Phật giáo vẫn tiếp tục là kim chỉ nam hướng loài người sống hòa bình, an vui, hạnh phúc.

Để tưởng nhớ một cách tốt đẹp nhất về Đức Bản sư của chúng ta, nhân ngày Lễ Phật đản năm nay, mỗi người con Phật hãy luôn có ý thức, sống theo nếp sống chan hòa của đạo đức Phật giáo như tinh thần kinh Pháp Cú mà Đức Phật đã dạy:

"Ai dùng các hạnh lành,

Làm xóa mờ nghiệp ác,

Sẽ chói sáng đời này,

Như trăng thoát mây che”.

                         (Kinh Pháp cú số 173)

       Hôm nay, chúng ta đón mừng Đại lễ Phật đản PL.2560 trong bối cảnh thế giới vẫn còn nhiều mâu thuẫn, các vụ xung đột sắc tộc và tôn giáo là nguyên nhân dẫn đến những cuộc khủng bố đẫm máu gây chết chóc tang thương cho người dân vô tội. Mặt khác, biến đổi khí hậu từng ngày đang đe dọa tính mạng hàng tỷ người trên hành tinh, trong đó đất nước Việt Nam của chúng ta đang phải gánh chịu một phần hậu quả nghiêm trọng. Xu hướng toàn cầu hóa, tình hình an ninh khu vực trên biển Đông, thực trạng này đã tác động, ảnh hưởng đến đời sống xã hội và an ninh đất nước. Với truyền thống yêu nước, hộ quốc an dân, đồng hành sắt son với dân tộc, Phật giáo Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc sự thịnh suy của Phật giáo liên quan mật thiết đến sự tồn vong của dân tộc. Do đó là người con Phật, chúng ta phải sống có trách nhiệm với cộng đồng xã hội, lấy lý tưởng vô ngã và tinh thần hòa hợp làm nòng cốt cho mọi hoạt động Phật sự, đồng lòng chung sức góp phần cho sự nghiệp phát triển phồn vinh của đạo pháp và dân tộc.

          Đại lễ kỷ niệm Phật Đản PL.2560 là để mọi người con Phật tưởng nhớ về Ngài, Bậc khai đạo, chỉ đạo và hướng đạo. Một bậc Thầy hoàn thiện của Chư thiên và loài người, để mỗi chúng sinh luôn hướng về những giá trị tốt đẹp của cuộc sống, xây dựng một xã hội hòa bình, hạnh phúc, an lạc đúng như hạnh nguyện lúc đản sinh của Ngài: "Khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến”, để nhân loại trở về với bản thể Phật tính chân như, để khắp nhân gian đều an bình, hòa hợp trong chính pháp. Ý nghĩa cao cả này là đóa hoa tinh khiết dâng lên cúng dường ngày đản sinh của đấng Từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Nguồn:http://giaohoiphatgiaovietnam.vn/

 

Ý nghĩa và Tìm hiểu về tràng hạt trong Phật giáo

image

Tràng hạt khởi nguồn từ Ấn Độ và đã trở thành một vật quan trọng trong đời sống tín ngưỡng, văn hóa của tín đồ các tôn giáo và trong xã hội Ấn Độ cổ. Với Phật giáo, tràng hạt là vật tùy thân giúp cho hành giả dễ dàng chú tâm vào đối tượng trì niệm, là một sợi dây xâu suốt các ý tưởng thành một trật tự, từ đó hành giả có thể đi sâu hơn vào các trạng thái của định để làm phát khởi tuệ giác.

Cũng như chuông, mõ, tràng hạt là một phương tiện trong muôn ngàn phương tiện tu tập của Phật giáo. Trong Phật giáo, mọi hình thức pháp khí hay vật thể đều là những phương tiện. Tuy nhiên, không phải vô cớ mà người ta bày ra. Dĩ nhiên, mỗi một hình thức của một vật thể đều có một ý nghĩa biểu trưng đặc biệt của nó.

Nguồn gốc của tràng hạt

 Không chỉ Phật giáo mới đề cập đến chuỗi hạt và hướng dẫn việc sử dụng chuỗi hạt để đạt được những giá trị trên con đường tu tập. Người ta có thể thấy, pháp môn lần tràng hạt niệm Phật của Phật giáo rất gần gũi với phương pháp lần tràng hạt trong lúc cầu nguyện của Bà la môn giáo, một lối cầu nguyện rất thịnh hành của những vị Bà la môn. Bên cạnh đó, người Ấn giáo theo phái thờ thần Siva cũng dùng một loại hạt gọi là rudrāka để xâu thành tràng hạt. Truyền thuyết kể rằng, có lần vị thần này ngắm nhìn thế gian, thấy chúng sinh sống trong nỗi khổ cực không sao nói hết nên đã đau lòng nhỏ xuống những giọt nước mắt, những giọt nước mắt này mọc thành cây rồi cho ra những hạt đỏ thẫm. Người ta đã lấy những hạt ấy làm thành tràng hạt để cầu nguyện trong sự tưởng nhớ đến tấm lòng từ bi của thần Siva. Hạt đó chính là hạt kim cương mà ngày nay chúng ta vẫn dùng để làm tràng hạt. Trong quan niệm của người Ấn Độ, vô hoạn tử và rudrāka đều là những loại hạt thiêng, có khả năng trừ ma chướng. Điều này có lẽ một phần do dược tính của chúng, như vô hoạn tử, còn có tên là bồ đề tử, là một vị thuốc chủ trị nhiệt, đàm, sát trùng…

Tuy nhiên, trong Kinh điển Phật Giáo, cái khởi nguyên của tràng hạt và lần chuỗi hạt khi niệm Phật, hầu hết đều căn cứ vào sự khai thị của Đức Phật đối với Vua Ba Lưu Ly đã được ghi chép lại trong Kinh Mộc Hoạn Tử. Kinh Mộc Hoạn Tử, chép rằng: Một thời Đức Phật cùng giáo đoàn của ngài du hóa trong núi Kỳ Xà Quật (Grdhrakùta), nước La Duệ Kỳ (Ràjagrha) quốc vương trong thời nạn ấy tên là Ba Lưu Ly, sai sứ giả đến chốn Phật để xin Thế Tôn đặc biệt rủ lòng thương xót, cho pháp yếu để có thể tu hành được dễ dàng và trong đời mai sau xa lìa được mọi khổ não. Đức Phật bảo sứ giả về thưa với nhà vua rằng: nếu nhà vua muốn diệt được phiền não chướng, báo chướng nên xâu một chuỗi tràng 108 hạt bằng hạt cây tra (mộc hoạn tử) và thường đem theo mình; khi đi, khi ngồi, khi nằm thường nên chí tâm, không phân tán ý, xưng danh hiệu: Phật, Pháp, Tăng mỗi lần, lần qua một hạt cây tra. Cứ như thế, lần lượt qua hạt này đến hạt khác, như: mười hạt, hai mươi hạt, trăm hạt, nghìn hạt, cho đến trăm nghìn vạn hạt. Nếu lần được đủ hai mươi vạn lượt, mà thân tâm không tán loạn, không có những siểm khúc, thời khi xả thân này được sinh lên cõi Diệm Thiên thứ ba. Lên đấy, y, thực tự nhiên, thường an lạc hạnh. Nếu lại lần đủ được một trăm vạn lượt, sẽ dứt hẳn được một trăm tám kết nghiệp, mới gọi là vị chứng được quả Tu-Đà-Hoàn (ngược dòng sinh tử), hướng đến đạo Niết bàn, dứt hẳn cội gốc phiền não và chức được quả vô thượng. Tràng hạt trong Phật giáo ra đời từ đấy. Các tăng sỹ thường mang theo bên mình tràng hạt như là một bảo bối, một pháp khí quan trọng để hỗ trợ họ trên con đường tu học Phật pháp.

Như vậy, có thể thấy, dù trong truyền thống văn hóa cổ xưa của Ấn Độ và trong các nền văn minh khác của nhân loại, chuỗi hạt đã có từ lâu và gắn với mỗi cộng đồng xã hội nó có một ý nghĩa biểu trưng hay giá trị thẩm mỹ khác nhau. Nhưng với Phật giáo, tràng hạt được đề cập với vai trò của pháp phương tiện, là pháp khí, là công cụ để hỗ trợ việc tu hành đạt giác ngộ.

Số lượng của chuỗi hạt

Theo Kinh Mộc Hoạn Tử nêu ở trên, tràng hạt của Phật giáo gồm có 108 hạt, con số này cũng giống với các giáo phái khác ở Ấn Độ. Tuy nhiên, về sau, để tiện lợi cho các nghi thức hành lễ, tràng hạt được xâu bởi chuỗi hạt với những số lượng ít hơn, như 54, 27 hạt hoặc 36, 18 hạt. Con số 108 này tượng trưng cho 108 phiền não gồm 88 kiến hoặc, 10 tư hoặc và 10 triền. Ngoài ra, con số 108 còn được giải thích theo nhiều cách khác nữa. Người ta nhận thấy rằng số hạt thường là tương đương với số lượng của đối tượng được niệm, trong niệm danh hiệu Phật thì có 108 danh hiệu, trong Ấn giáo thì có 108 bộ Áo nghĩa thư. 108 = 6x3x2x3, đó là 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp) x 3 thời (quá khứ, hiện tại và vị lại) x 2 trạng thái của tâm (nhiễm và tịnh) x 3 trạng thái của thọ (ưa, không ưa và trung lập). 108 còn là con số 11 x 22 x 33 = 1 x 4 x 27. Đây có lẽ là những quan niệm liên quan đến vấn đề số học của người Ấn Độ xưa. Trong hình ngôi sao năm cánh, góc bù được tạo nên bởi 2 cạnh cắt nhau là 1080. Người ta nói rằng ở Ấn Độ có 108 điệu múa. Trong thân thể chúng ta có 108 luân xa. Các nhà chiêm tinh cho rằng đường kính mặt trời lớn bằng 108 lần đường kính trái đất. Trong con số 108, số 1 biểu trưng cho sự hợp nhất, tức là nhất; số 8 là vô cùng, tức là dị; số 0 là trung gian, là trung đạo với nghĩa không, tánh không. Tựu trung, con số 108 được giải thích dưới nhiều góc độ khác nhau, và rõ ràng nó mang ý nghĩa tượng trưng rất quan trọng trong quan niệm người Ấn Độ. Ở chừng mực nào đó, có thể nói rằng con số 108 này cũng kỳ diệu như chỉ số PHI (φ) 1.618 trong truyền thống Hi Lạp.

Theo Kinh Giảo Lượng Sổ Châu Công Đức, và theo Kinh Kim Cang Đảnh Du Già Niệm Châu có sự ghi chép bất đồng, tràng hạt có các loại như sau: - Căn cứ Kinh Mộc Hoạn Tử dạy làm chuỗi 108 hạt. - Kinh Đà Ra Ni Tập quyển 2 phẩm Tác Châu Pháp Tướng, thì nêu ra có 4 loại chuỗi: 108 hạt, 54 hạt, 42 hạt, 21 hạt. - Kinh Sổ Châu Công Đức, cũng nêu ra 4 loại chuỗi, tức là loại 108 hạt, loại 54 hạt, loại 27 hạt, và loại 14 hạt. - Kinh Kim Cang Đảnh Du Già Niệm Châu thì lấy 1.080 hạt làm chuỗi bậc thượng, xâu 108 hạt làm chuỗi tối thắng, xâu 54 hạt làm chuỗi bậc trung, xâu 27 hạt làm chuỗi bậc hạ. - Phẩm Sổ Châu Nghi Tắc trong Kinh Văn Thù Nghi Quỹ bảo rằng: Chuỗi bậc thượng là 108 hạt, chuỗi bậc trung là 54 hạt, chuỗi bậc hạ là 27 hạt, chuỗi tối thượng là 1.080 hạt. Trong những tràng hạt với số lượng hạt như trên thì xâu chuỗi 108 hạt là phổ biến hơn hết.

Trong tràng hạt có một hạt gọi là hạt Sumeru hay Meru, chúng ta thường gọi là hạt Tu di hoặc hạt Di đà, đó là hạt thứ 109, là chỗ giáp nối của vòng tròn. Theo nghi thức, khi lần tràng, không được vượt qua hạt này, lần đến hạt này thì lần ngược trở lại, như trong kinh Kim cương đỉnh du già niệm châu có câu: “Hạt giữa tiêu biểu Phật Di đà, chớ lần qua, phạm tội việt pháp”. Tuy nhiên, trong việc xâu chuỗi hạt, tùy cách xâu mà có thể có hoặc không có hạt thứ 109 này.

Ý nghĩa của tràng hạt

Căn cứ vào những pháp số tổng thành mà nó biểu trưng theo quan niệm của phật giáo, việc sử dụng tràng hạt có số hạt khác nhau, thì ý nghĩa biểu trưng của nó cũng có những khác biệt:

- Chuỗi 108 hạt là biểu thị cho cầu chứng 108 pháp Tam Muội mà đoạn trừ 108 phiền não.

- Chuỗi 54 hạt là biểu thị cho 54 cấp vị quá trình tu hành của Bồ Tát, tức là Thập Tín, Thập Trú, Thập Hạnh. Thập Hồi Hướng, Thập Địa và Tứ Thiện Căn Nhân Địa.

- Chuỗi 42 hạt là biểu thị cho 42 cấp vị quá trình tu hành của Bồ Tát, tức là Thập Trú, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa và Đẳng Giác, Diệu Giác.

- Chuỗi 27 hạt là biểu thị cho 27 cấp vị của Tiểu Thừa tu hành Tứ Hướng Quả, tức là 18 bậc Hữu Học của Tứ Hướng Tam Quả trước, với 9 bậc Vô Học của Đệ Tứ Quả A La Hán.

- Chuỗi 21 hạt là biểu thị cho 21 vị, tức là Thập Địa, Thập Ba La Mật và quả vị Phật.

- Chuỗi 14 hạt là biểu thị cho 14 Pháp Vô Úy của Bồ Tát Quán Thế Âm.

- Chuỗi 1.080 hạt là biểu thị cho 10 cảnh giới, mỗi cảnh giới đều có 108, cho nên cộng thành 1.080.

Ý nghĩa của chuỗi 36 hạt và 18 hạt có nhiều người cho là không biểu trưng cho pháp số nào trong Phật giáo, và cho rằng nó tương đồng với chuỗi 108 hạt. Theo đó, để tiện cho sự mang đeo, bèn chia chuỗi 108 hạt ra thành 3 chuỗi, mỗi chuỗi có 36 hạt, hoặc chia chuỗi 108 hạt ra làm 6 xâu, mỗi xâu có 18 hạt, mà không phải có thâm nghĩa nào cả.

Tuy vậy, chúng ta cần biết rằng, sự khác biệt của số hạt với những ý nghĩa biểu trưng khác nhau trên đây, là do các vị Bồ tát, hiền thánh tăng, sau khi đức Phật nhập diệt, đã tùy duyên giao phó làm phương tiện giáo hóa, mà không phải bắt nguồn từ văn của Kinh điển gốc đã nêu. Nghĩa là số lượng các hạt trên tràng hạt là không cố định và bắt buộc.

Công dụng của tràng hạt

 

 

Tràng hạt là một vật dụng phổ biến trong nhiều nền văn hóa trên thế giới. Nó được dùng như một thứ trang sức hoặc như một pháp khí tùy theo đối tượng sử dụng. Trong tôn giáo, tràng hạt được dùng để liên kết và thiết lập trật tự cho các lời cầu nguyện, các bài kinh, các kệ tán, các danh hiệu hoặc những thần chú trong khi hành trì.

Với Phật giáo, tràng hạt là một pháp khí quen thuộc, việc sử dụng tràng hạt dường như đã trở thành nét đặc thù của Tịnh độ tông. Theo lịch sử truyền thừa của Tịnh độ tông, người chế ra tràng hạt để niệm danh hiệu Phật chính là ngài Đạo Xước (562-645), người được tôn là tổ thứ 2 của Tịnh độ tông Trung Quốc. Còn với Phật giáo Nam tông, từ lâu tràng hạt cũng đã dần dần trở thành một vật tùy thân ngoài 8 vật (3 y, kim chỉ, bình bát, dây lưng, dao cạo và túi lọc nước) đã được Phật chế định.

Không phải ai niệm Phật cũng lần tràng hạt. Điều này, còn tùy theo căn tính và thói quen của mỗi người. Tuy nhiên, đối với những tín đồ, Phật tử tu theo Tịnh Độ tông, thì nên lần chuỗi để tiện bề đếm số đúng như lời mình đã phát nguyện.  Bởi vì đối với những người sơ cơ, nhiều nghiệp chướng, tâm chưa thuần nhất, còn đầy vọng tưởng tạp loạn, thì việc dùng tràng hạt khi niệm Phật để dễ định tâm hơn. Hơn nữa, người tu tịnh nghiệp, thì tam nghiệp (thân, khẩu, ý) cần phải giữ thanh tịnh. Tay lần chuỗi thuộc về thân nghiệp, miệng niệm Phật thuộc về khẩu nghiệp, ý chuyên chú vào câu hiệu Phật không rời ra, thuộc về ý nghiệp. Kinh Phật dậy: “Tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương”, nghĩa là ba nghiệp đều thanh tịnh thì cùng Phật vãng sinh về Tây phương cực lạc. Như vậy, tay lần chuỗi cũng là mục đích để ghi nhớ mỗi một hạt chuỗi là niệm một câu hiệu Phật, đồng thời cũng là cách ghi nhớ số, để không nhầm lẫn vậy.

Công dụng của chuỗi hạt chỉ là một phương tiện như muôn ngàn phương tiện khác. Người ta dùng nó để niệm Phật. Nhờ lần chuỗi ghi số câu mà tâm ít tán loạn hơn. Tuy nhiên, điểm căn bản để diệt trừ phiền não, chính là ở nơi cái tâm. Người niệm Phật, tay lần chuỗi mà tâm lăng xăng, tán loạn, luôn nghĩ tà vạy, thì dù miệng có niệm Phật, tay lần tràng hạt, cũng không thể nào có kết quả định tâm được./.

Nguồn: http://www.lieuquanhue.vn (Yến Sơn)

 

Ý nghĩa Pháp khí và Pháp phục trong Phật giáo

Pháp khí là những dụng cụ dùng để thực hành các loại pháp sự, để dâng cúng lên chư Phật hoặc các đạo tràng nghiêm trang, hoặc làm dụng cụ trợ ích trong tu tập. Pháp phục là những y cụ cần thiết cho tu sĩ
Nghi Lễ trong đạo Phật có rất nhiều pháp khí như: Chuông, trống, bảng, khánh, tràng hạt, bình bát, cà sa, tích trượng v.v… mỗi thứ đều có một công dụng và ý nghĩa khác nhau.

I/ Những pháp khí thông thường:

1/ CHUÔNG:

Xuất xứ: Theo như trong kinh Tăng nhất a hàm có chép: Mỗi khi nghe tiếng chuông ngân lên, thì các hình phạt trong các ác đạo tạm thời dừng nghỉ, chúng sanh nào đang chịu những hình phạt ấy cũng được tạm thời an vui. Nghe được tiếng chuông là phiền não nhẹ vơi đi. 

Theo kinh Tăng A Hàm, quyển 24 Ðức Phật bảo ngài A Nan: “hãy đánh chuông lên để tập họp chúng, nhân ngày rằm tháng 7”. Vậy chuông là một pháp khí để tập họp Tăng Chúng và thức tỉnh Chúng Sinh đã có từ thời Phật tại thế.
 

 
Trong chuyện Cảm thông cũng có chép:

.. ."Ngày xưa khi đức Phật Câu lưu Tôn ở tại viện Tu đa La xứ Càng trúc đã có tạo một quả chuông bằng đá xanh, thường vào lúc mặt trời vừa mọc khi tiếng chuông ấy vừa ngân lên thì trong ánh mặt trời ấy có các vị Hóa Phật hiện ra, diễn nói 12 bộ kinh, làm cho người nghe được chứng thánh quả không kể xiết"

Trong bộ kinh Kim cang Chí cũng có chép: "Vua Hiếu cao Hoàng đế đời nhà Đường nhơn vì nghe lời sàm tấu của Tống tề Khưu mà giết lầm kẻ tôi trung tên là Hòa Châu, nên khi chết đọa vào địa ngục. Một hôm có một người bị bạo tử (chết thình lình) thần hồn đi lạc vào địa ngục ấy, thấy một tội nhân đang bị gông cùm, bị kềm kẹp đánh đập rất là khổ sở, hỏi ra thì mới biết là vua Hiếu Cao nhà Đường. Vua gọi vị bạo tự ấy vào mà nói rằng: Nhờ ngươi trở lại dương thế nói giúp với hậu chúa rằng: Hãy vì ta mà đúc chuông cúng dường và làm các việc từ thiện. Khi trở lại dương thế, người bạo tử liền đến yết kiến hậu chúa để chuyển lời nhắn nhủ của vua Hiếu Cao. Nghe vậy, hậu chúa liền thân hành đến chùa Thanh Lương phát nguyện đúc một quả chuông để cúng dường và cầu siêu cho Hiếu Cao Hoàng đế. (Tích nầy trong truyện Bách Trượng thanh quy, trang 68 và 87). Đồng thời trong kinh Lăng nghiêm, đức Phật cũng bảo ngài La hầu La đánh chuông để giảng cái lý cho Tôn giả A Nan nghe. Vì thế chúng ta có thể hiểu rằng chuông đã có từ thời đức Phật còn tại thế.

Ở Trung Quốc, chuông đã được xử dụng tại các tự viện từ đời nhà Chu (557 trước tây lịch), nhà Tùy (609) “Tục Cao Tăng Truyện: ngài Trí Hưng nhận lo việc chuông tại chùa Thiền Ðịnh ở kinh đô Trường An”. Thế kỷ thứ VI, Hòa Thượng Chí Công khởi xướng, vua Lương Vũ Ðế thực hiện “Hồng chung” cầu nguyện cho các thần thức bị đọa trong chốn U Minh (địa ngục).

Phật Giáo Việt Nam từ trước đến nay thường xử dụng 3 loại chuông:

A. Hồng Chung: Cũng còn gọi là Phạn chung, Hoa chung, Cự chung, Ðại chung.

Chuông này được đúc bằng đồng xanh pha ít sắt. Thông thường chuông cao khoảng 1.50m, đường kính khoảng 6 tấc. Loại này treo trong lầu chuông, mục đích thỉnh chuông là để chiêu tập đại chúng hoặc báo thời sớm tối. Người Việt Nam thường dùng từ “Ðại hồng chung” chỉ cho loại chuông thật lớn, gần như không còn có quy định, có nơi được tính theo tiếng ngân dài của chuông. Như ở Huế: đánh chuông lên, dùng hai tay dăng ra và gập lại vào ngực gọi là một “sải”, làm như vậy cho đến khi tiếng ngân của chuông chấm dứt, được bao nhiêu lần là chuông lớn bấy nhiêu “sải”.
 

 
Ðại hồng chung còn được dùng:

1- Dùng công phu khuya sớm. Người thỉnh chung: tay đánh chuông, miệng đọc bài kệ:

Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới
Thiết vi u ám tất giai văn.
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông,
Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.

(Hòa thượng Thích Trí Quang dịch: Nguyện tiếng chuông này khắp pháp giới, Thiết vi u ám cũng nghe được. Căn cảnh thanh tịnh chứng viên thông, Hết thảy chúng sanh thành chánh giác).


Đồng thời, nguyện cho tất cả loài hữu tình lắng lòng nghe tiếng chuông, rồi duyên theo tiếng chuông ấy cũng bằng câu kệ:

Văn chung thanh phiền não khinh,
Trí huệ trưởng bồ đề sanh,
Ly dịa ngục xuất hỏa khanh,
Nguyện thành Phật độ chúng sanh.
Án, già ra đế da tóa ha (3 lần)


Nghĩa là:

Nghe được tiếng chuông, phiền não liền nhẹ,
Trí huệ thêm lớn, sanh tâm bồ đề
Ra khỏi địa ngục, vượt thoát hầm lửa,
Nguyện được thành Phật, để độ chúng sanh.
Án, già ra đế da tóa ha (3 lần) 


Tiếng chuông sớm hay tiếng chuông chiều không những chỉ để cảnh tĩnh cõi dương mà còn hướng dẫn cho cõi âm nữa. Vì thế mà thường gọi là chuông U minh.

2. chuông trống Bát Nhã (đánh theo bài kệ ở sau).

3. và trong các đại trai đàn chẩn tế, thường gọi là Chuông U Minh.

B. Chuông báo chúng:

Cũng còn gọi là Hoán chung, Tiểu chung, Bán chung, kích thước bằng ½, hình dáng giống như Hồng Chung, thường để một góc trong chánh điện, được treo trên giá và di chuyển dễ dàng, Cũng gọi là chuông Tăng đường, tức là chuông nhỏ, chỉ một người xách lên được. Hình thái cũng như chuông U minh, được treo ở trai đường, dùng để báo tin trong lúc họp chư Tăng biết vào những lúc: Nhóm chúng, thọ trai, giờ chấp tác, giờ bái sám trong các tự viện, báo hiệu cho quý vị Tăng Chúng biết sắp đến giờ hành lễ và xử dụng trong các buổi pháp hội..Về sau kích thước cũng tùy nghi không hạn định. Về việc thỉnh chung cũng tùy theo địa phương và tông phái, nhưng chung quy cũng biểu thị sự thanh lọc căn trần, vơi đi phiền não, hướng về giải thoát.
 

 
C.  Chuông gia trì:

Là loại chuông xử dụng chung với mõ để tụng kinh, hành lễ hằng ngày trước bàn Phật. Hình dáng như ½ quả cầu hay một cái tô để ngửa. Việc thỉnh chung: (xem bài khai chuông mõ).

Loại chuông nầy dùng để đánh lên trong lúc tụng kinh bái sám. Tiếng chuông gia trì được xử dụng trước khi tụng kinh hay báo hiệu sắp hết đoạn kinh đang tụng hay câu niệm Phật. Cũng thường đánh lên khi lạy Phật một mình. Còn khi đông người thì để báo hiệu cùng lạy cho nhịp nhàng. Chuông gia trì có đủ ba loại lớn, vừa và nhỏ. Chuông vừa và nhỏ thì thường thường Phật tử tại gia dùng nhiều hơn và cũng dùng như chư Tăng.
 

 
2/ TRỐNG:

Xuất xứ: Trong kinh Kim Quang Minh có chép: Một hôm người Tín trưởng Bồ tát nằm mộng thấy một cái trống bằng vàng. Trống ấy có chiếu ra hào quang sáng rực như mặt trời. Trong hào quang có rất nhiều đức Phật đang ngồi trên tòa sen lưu ly đặt dưới những gốc cây quý. Chung quanh các đức Phật đều có trăm nghìn ức vị đại đệ tử đang ngồi nghe pháp. Lúc ấy có một đạo sĩ Bà la môn đang cầm dùi trống đánh mạnh vào chiếc trống vàng, tiếng trống vang rền nghe như lời kinh sám hối. Khi đã tỉnh mộng, ngài Tín trưởng Bồ tát liền đem những điều ấy mà mình đã thấy nghe trình lên đức Thế tôn.". 

Trong kinh Lăng nghiêm cũng có chép:

Đức Phật dạy: 

- Này A Nan, ngươi hãy nghe tiếng trống mỗi khi dọn cơm xong, nghe tiếng chuông mỗi khi nhóm họp đại chúng trong tinh xá Kỳ đà hoàn nầy. Tiếng trống hoặc tiếng chuông ấy trước sau nối tiếp nhau. Vậy, theo ý ông, mỗi khi ông nghe được các thứ tiếng ấy là vì nó tự bay đến bên tai ông, hay tai ông đến nơi chỗ phát tiếng ấy?". (Đây là lúc đức Phật chỉ cái Tâm cho ngài A Nan)
 

 
Trống là một trong những loại nhạc khí, thường làm bằng đá, cây, đồng .v.v . xưa tại Ấn độ, dùng để báo thời gian, cảnh báo. Khi Phật còn tại thế, dùng nó để tập họp Tăng chúng, Bồ tát nghe pháp . . .Ngũ Phần Luật có ghi “Chư Tỳ Kheo Bồ Tát, chúng bất thời tập. Phật ngôn: nhược đả kiền chùy, nhược đả cổ . . .”Trung Quốc ngày xưa dùng nó trong các lễ lộc, vũ hội. Loại hình có lớn, nhỏ, treo hoặc để trên giá. Lớn gọi là “trống tẩu”, nhỏ gọi là “trống ứng”, treo để đánh gọi là “trống treo”.Từ đời nhà Ðường, theo thanh quy thiền môn, trống chỉ là loại pháp khí làm hiệu lệnh để báo thời sớm tối. Về sau Phật Giáo Trung Quốc phối hợp nhịp điệu, âm thanh của trống hoà cùng lời tán tụng phổ thành nhạc điệu gọi là “kỹ nhạc cúng dường, trang nghiêm đạo tràng”. Thời Ðường Hiến Tông năm 820, chuông trống đã được xử dụng rộng rãi trong nghi lễ Phật Giáo (Căn cứ theo bản dịch bài Thiền sư Ðại điên và Hàn Dũ). Việt Nam, trong các chùa thuộc tông phái Ðại Thừa cũng xử dụng trống vào nghi lễ gần giống như Trung Quốc, nhưng âm hưởng, sắc thái thuần túy dân tộc Việt Nam. Có nhiều loại trống, nghi lễ Phật Giáo thường xử dụng hai loại phổ thông:

A. Trống lớn (Ðại cổ):

Dùng để đánh vào những dịp lễ lớn. Trống lớn thường gọi là trống Bát nhã. Đánh trống lớn có bài kệ của nó. Tiếng trống tượng trưng cho chánh pháp. Chúng sanh mỗi khi nghe tiếng trống chánh pháp ấy thì tội chướng được tiêu trừ và cũng nhờ đó mà được giải thoát vào cảnh giới an lạc. Vì khi nghe được tiếng trống Bát nhã, tùy loại chúng sanh mà thâm nhập tiếng trống và có thể nương vào tiếng trống mà cảm nhận được dung nhan của đức Phật. Tiếng trống Bát nhã đánh lên để cung thỉnh Phật đăng bảo tọa.
 

 
1- Ðánh chuông trống Bát Nhã:

a. Khai: Nhập cùng với chung, bảng (nếu có); Cách đánh trong CD khai kinh Huế:

- 3 hồi chuông gia trì (cgt). - Mộc bảng(M), trống (T) - M T - M T- MTMT -  MT - M (7M và 6 )
- cgt, M, T - HồngCh, cgt, cgt, M, T - HồngCh, cgt, M, T - xxxx (gõ vành), T- xxxx (gõ vành), T  ttttttttt (trống luôn). Hoặc đánh - nhập hai tiếng (nhị đế dung thông).
-3 tiếng tiếp (mỗi lần một tiếng): Quy y Tam Bảo, dứt tam độc (tham, sân, si) -7 tiếng. (Thường gọi chung là một hồi luôn).

b. Bài kệ: Bát Nhã hội (3 lần)

Thỉnh Phật thượng đường
Ðại chúng đồng văn
Bát Nhã âm
Phổ nguyện pháp giới
Chúng hữu tình
Nhập bát Nhã
Ba La Mật Môn
(5 lần, 10 lần)


Bài kệ được Ðệ nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết và quí Hòa Thượng đồng thời xác tín, chứng minh.

Nghĩa là:

Hội Bát nhã,
Thỉnh Phật lên (giảng) đường,
Đại chúng đều (được) nghe:
Âm Bát nhã,
Vang khắp pháp giới,
Chúng hữu tình (vân vân),
(Đều nhập) lý Bát nhã,
Chứng nhập (pháp môn) Ba la mật.


c- Ðánh dứt 4 tiếng (chứng nhập Tứ Ðế): xxxx C - T    xxxx C - TT    xxxx C - T    C
2- Ðánh trống thỉnh Phật, Tổ, Thần (Ðả cổ thông tam giới…)
3- Ðánh trống rước Phật, Xá Lợi, Thần sắc.

B. Trống nhỏ (trống kinh): Dùng để đánh mỗi khi tụng kinh nên cũng được gọi là trống kinh (tiếng bình dân thường gọi là trống cơm). Ngoài việc dùng đánh để tụng kinh hằng ngày vào hai thời công phu khuya và chiều trong các tự viện, trống tiểu còn dùng để hòa âm trong cổ nhạc Phật giáo và cổ nhạc Việt nam. Trống tiểu thì khó đánh hơn trống lớn. Bài học để xử dụng cho trống tiểu rất nhiều, phức tạp và khó học. Có rất nhiều thể điệu khác nhau như là thể điệu thiền khi tụng kinh, thể điệu ai khi dùng vào đám táng, chẩn tế cô hồn, ... Nếu không học thì không thể xử dụng…;mới trông qua giống cái trống Cơm, nhưng hơi khác : tiếng dòn và trong hơn, cái đùi đánh trống gọi là roi trống
 

 
3/ MÕ:

Xuất xứ: Trong bộ sách Sắc tu Thanh quy Pháp khí về chương mộc ngư có chép rằng: 

Lời Tương truyền: Loài cá luôn thức không bao giờ ngủ và rất hoạt động. Vì vậy khi tạo loại pháp khí nầy thì mõ được chạm trổ theo hình con cá với thâm ý là muốn thức tĩnh con người cũng như chúng hữu tình đang còn trong mê muội, u trầm.

 
Trong sách Chính ngôn đời nhà Đường thì chép: Có một người bạch y đến hỏi một vị Trưởng lão ở Thiên trúc rằng: Tại sao các Tăng xá đều có treo mõ?
Vị trưởng lão trả lời:

- Vì để cảnh tĩnh chúng Tăng tại Tăng xá hay tự viện ấy.

Người bạch y hỏi tiếp:

Nhưng tại sao lại tạc hình con cá?

Vị Trưởng lão không trả lời được. Người bạch y lại hỏi ngài Hộ Biện và được ngài giải thích rằng:

- Loài cá là loài không bao giờ nhắm mắt và thích hoạt động. Cũng vì muốn cho người tu hành ngày đêm quên ngủ, gắng công tu tập, mau chứng đạo quả nên treo và đánh mõ và cái mõ được tạc hình con cá vậy.
 
Mõ có hai loại: Mõ có hình bầu dục và mõ có hình điếu. Tất cả đều được tạc theo hình con cá.

- Mõ hình hình bầu dục để tụng kinh, điều khiển buổi lễ khi đông người tụng được nhịp nhàng.

- Mõ hình điếu thì treo ở nhà trù dùng để báo hiệu khi thọ trai hay chấp tác. Ngoài ra, cũng có một loại mõ rất nhỏ dùng để chư Tăng đi kinh hành gọi là nhiễu Phật. Tiếng mõ vừa giữa cho buổi lễ được trang nghiêm lại vừa giữ cho tâm hồn khỏi tán loạn trong khi hành lễ. Bởi thế, người đánh mõ gọi là Duyệt chúng, tên nầy gọi là làm đẹp lòng mọi người trong lúc cùng tụng kinh với nhau. Đánh mõ phải học hẳn hoi, đúng điệu và đúng cú pháp của nó.

Theo sách Tam Tài Ðô Hội của Vương Tích đời Ðường có đoạn: “Mõ là loại mà dùng cây khắc thành hình con cá, rỗng bên trong, gõ nó sẽ phát ra tiếng, các hàng Phật tử khi tán tụng đều dùng đến nó”. Mõ có hai loại:

A. Loại dài hình con cá dựng đứng hoặc treo ở các nhà kho, dùng để báo hiệu giờ ăn cơm, tập họp, phổ thỉnh Tăng chúng tại các chùa ngày xưa (sách Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy, chương pháp khí).
 

Loại mõ dài còn thấy xử dụng tại một số đình làng ở miền Trung, Việt Nam để triệu tập dân làng khi cần. (Hiện thấy tại đình làng Dương Nổ, sau năm 1975).

B. Loại hình tròn như vảy cá, trên mõ có khắc chạm hình con cá; dùng để gõ nhịp lúc tụng kinh. Loại này được nói là xuất hiện vào triều đại nhà Minh (Trung Hoa).

Theo sách Tham thiền Ngũ Ðài Sơn ký (quyển 3) Tống Thần Tông, Hy Ninh năm thứ 5 ngày 8 tháng 8 ghi: Trong chùa Thanh Thái có thờ tượng Ngài Phó Ðại Sĩ. Mỗi khi ngài muốn gặp các vị tu hạnh Ðầu Ðà nơi cao sơn chỉ gõ mõ, chư vị sau khi nghe mõ ấy liền đến. Sau đó các tự viện dưới chân núi đều dùng mõ để tập họp đại chúng.

 
Sách Tăng Tu Giáo Uyển Thanh Quy (quyển 3) phần pháp khí, có ghi lại truyền thuyết rằng: “có một vị Tăng do phản thầy, huỷ pháp nên bị đọa làm thần cá, trên lưng con cá ấy lại mọc mấy cái cây, mỗi khi sóng to gió lớn, khiến thân ra máu, thật thống khổ vô cùng. Một lần nọ, vị Thầy Bổn Sư qua biển, nhân đó nó muốn đòi nợ, liền nói rằng: Thầy không dạy bảo nó, nên nó mới phải bị đọa làm thần cá như thế này, do đó nay nó muốn báo oán. Thế rồi, vị thầy ấy bảo cá nên ăn năn sám hối, Thầy ấy cũng vì con cá mà cầu siêu, chú nguyện và ngay đêm đó nó được hóa kiếp. Vị Thầy Bổn Sư liền đem cây ấy đẽo thành hình con cá và treo lên để cảnh tỉnh đại chúng”. Ðó là một lẽ mõ mang hình cá.  

Trong Sắc Tu Thanh Quy, chương Pháp Khí nói: “tương truyền cá là loại thức tỉnh  suốt ngày đêm, nên khắc hình con cá mà gõ để thức tỉnh những kẻ hôn trầm lười nhác”.

Sách Gia Ngôn nói rằng: “có một người taị gia hỏi một vị Trưởng Lão Thiên Trúc rằng: “Tăng xá đều treo mõ cá là nghĩa làm sao?”. Ðáp: “dùng để cảnh tỉnh đại chúng”. Người tại gia đó lại hỏi: “nhưng vì sao lại cứ phải khắc thành hình con cá?”. Vị Trưởng Lão đó không giải đáp được bèn đến hỏi Sư Ngộ Biện. Sư đáp: “cá đêm ngày không hề nhắm mắt, đó cũng là muốn người tu hành quên ngủ để đến với đạo”.

Ý Nghĩa Về Chuông Mõ:
 
a. Trước đánh ba tiếng (tiên khởi tam),
b. Kế nhịp bảy (thứ lôi thất),
c. Tiếp đánh ba (tịnh đả tam),
d. Giữa đánh mưới (trung đả thập)
e. Sau cùng dứt bốn (hậu diệt tư).

- Trước đánh ba tiếng: Nghĩa là chúng sanh do ba nghiệp thân khẩu ý tạo tác mọi điều ác, sau sẽ đọa vào trong ba đường dữ: địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Nhưng cũng có nghĩa là cố trừ ba độc: tham, sân và si để vượt lên ba giải thoát để chứng đắc ba đức: Pháp thân, Bát nhã thân và Giải thoát thân. (Phần nầy giảng lượt đi nên không mấy ai biết đến. Chúng tôi viết ra đây cho đu, vì la tài liệu tham khảo).

- Kế tiếp nhịp bảy tiếng: Đây là tiêu biểu cho thất chi tội. Về thân thì có ba: Sát, đạo và dâm. Về khẩu thì có bốn: Vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt và ác khẩu. Sau khi đã đoạn trừ được bảy tội nêu trên liền chứng được thất giác chi: Trạch pháp, tinh tấn, hỷ, trừ, xả, định và niệm.

- Tiếp đánh ba tiếng: Là phát nguyện tu tam học tức là giới, định và huệ để quyết chứng cho được ba thừa: Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát.

- Giữa đánh mười tiếng: Đó là tiêu trừ mời điều ác gồm thất chi tội cọng thêm của ý có ba là mười. Từ đó, chứng nhập mười thân gồm: Bồ đề thân, nguyện thân, hóa thân, lực thân, trang nghiêm thân, oai thệ thân, ý sanh thân, phước thân, pháp thân và trí huệ thân. (Phần nầy, sau nầy giản lượt đi, không mấy ai dùng đến và cũng không mấy ai biết để ý đến. Chúng tôi viết ra đây là vì tài liệu nghiên cứu, phải làm cho đầy đủ mà thôi).

- Sau cùng dứt bốn: Tức là để tiêu trừ bốn tướng: Sanh, lão, bệnh và tử để chuyển thành bốn trí:

- Thành sở tác trí: Tiền ngũ thức (nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt và thân),

- Diệu quan sát trí: Đệ lục ý thức,

- Bình đẳng tánh trí: Đệ thất Mạc na thức,

- Đại viên cảnh trí: Đệ bát A lại da thức.

4. Bảng và Khánh:

Xuất xứ: Bảng và Khánh là một trong những thứ pháp khí của nhà Phật. Hai loại nầy được thường dùng trong ngày ở các chùa, viện. Từ xưa đến nay đều dùng làm hiệu lệnh như báo tin giờ học, tụng kinh, thọ trai, chấp tác của chư Tăng.
 

 
Trong sách Tượng khí Tiêu, quyển 18 có chép rằng: Ngài Vân Chương nói:

-  Hình của Bảng giống như đám mây, nên người ta cũng gọi là Vân bảng. Còn theo lão Hòa thượng Tục Sư có thuật chuyện vua Tống thái Tổ cho rằng: Tiếng trống hay làm giật mình người ngủ, nên thay vì dùng trống, Tống thái Tổ chế ra thiết khánh. Loại khánh nầy cũng được gọi là Vân bảng. Vì hình của nó cũng giống như hình cánh dơi trên bề lưng lẫn bề mặt có đám mây qua lại, loại nầy có nơi gọi là chinh (chiêng).
 

 
Cách chế tác và xử dụng: Theo ngài Vân Chương trong sách Tượng khí tiêu thì hình của Bảng giống như đám mây và làm bằng đồng, thiết. Nhưng nay ở các tòng lâm, tự viện thì dùng bằng gỗ và được chạm trổ theo hình bán kính bát giác. Bề cao khoảng chừng bốn tấc tây, rộng chừng hai tấc tây. Bảng cũng được thay thế cho trống trong những trường hợp nói trên, đồng thời cũng dùng để phân phát đồ cúng dường hay phân xử việc của chúng Tăng... Bảng và Khánh trong luật được gọi là Kiền Chùy Thành. Cách dùng không khác nhau, chỉ khác nhau về hình tướng và vật liệu chế tác. Ngày xưa thiết và đồng còn khan hiếm nên chư tổ đã dùng bằng đá cẩm thạch. Tiếng kêu cũng tương tự như khánh đồng, nhưng nhỏ tiếng hơn. Ngày nay các tòng lâm lại ít dùng khánh mà chỉ dùng bảng nhiều hơn.
 

 
5/ LINH:

Linh là một pháp khí làm bằng đồng  thau hay đồng đỏ, dùng để gõ hoặc rung lên khi tụng kinh trước Phật đài. Linh có hai loại:
 

 
A. Hình giống như cái bát. Mật tông gọi là Bát Vàng, là loại Thiền tông xử dụng sớm nhất

B. Hình giống như cái chuông nhỏ, bên trong có buộc một viên đồng, có cán có lưỡi, rung lên thì kêu vang. Cán của nó hình từ 1 đến 5 vòng gọi là Linh Chử. Là một loại pháp khí thường xữ dụng để chấn khai địa ngục trong trai đàn chẩn tế và giữ nhịp trường canh trong các buổi tụng kinh. Loại này có tên là Kim Cương Linh. Khi xử dụng có hai cái: một âm và một dương.

6/ KHÁNH DẪN:

Hình tròn như cái chén nhỏ, có cán để cầm và dùi để đánh. Thường dùng để thỉnh sư, dẫn chúng niệm Phật kinh hành và giữ nhịp trường canh lúc mới bắt đầu làm lễ.
 

 
7/ TANG:
 

 
Là một pháp khí làm bằng đồng thau, hình tròn, nhỏ bằng cái chén ăn cơm, sâu khoảng 1.50 cm đến 2 cm; phỏng theo hình dáng cái phèn la, buộc thòng vào một vành tròn có cán để cầm bằng 3 sợi dây ở 3 góc đều nhau, dùng một cái dùi bằng tre uốn cong 90 độ để đánh lên khi tán tụng, tang  thường thấy xử dụng ở miền trung Việt Nam (Huế).

7/ ÐẨU:

Hình thể hoàn toàn giống như Tang, nhưng không có cán cầm, mà chỉ nắm trong lòng bàn tay, cái dùi để đánh hình dáng như một chiếc đũa. Thường xử dụng 2 cái: một âm (trầm), một dương (bổng). Loại này thường thấy ở các tỉnh phía nam Trung phần (Bình Ðịnh trở vào) và Nam phần Việt Nam.
 

8/ PHÁP LOA:

Thường goị là Tù Và làm bằng loại vỏ ốc lớn, phiên âm từ tiếng Phạn là Thương Khu dịch nghĩa là Kha Bối (vỏ con Kha nói tắt của chữ Sankha) tức là vỏ ốc, vỏ sò. Tiếng thổi vào vỏ ốc vang đi rất xa, lấy đó để ví với tiếng thuyết pháp của Ðức Phật vang xa bao trùm khắp đại chúng, tiếng thổi vỏ ốc nghe mạnh mẽ, biểu hiệu sự hùng mạnh của đại pháp. Thế tục dùng vỏ ốc thổi làm hiệu lệnh ba quân, cũng ví như lời thuyết pháp của Ðức Phật có sức mạnh hàng phục ma quỷ. Còn như nghi thức thổi vỏ ốc trong Phật sự; Theo Mật Tông giải thích: vỏ ốc có hình Tam Muội Da cuả Ðức Vô Lượng Âm Phật Ðỉnh Tôn là chẩn mực pháp âm của Ðức Phật, nghe tiếng thổi vào vỏ ốc thì Thiên Thần, Chư Thiên đều hoan hỉ mà hưởng ứng, người thế tục nghe tiếng ốc thì diệt trừ được các tội chướng. Do đó trong hình Ðức Phật Quan Âm nghìn cánh tay, có một tay cầm Pháp Loa.
 

Tại các chùa ở Huế - Việt Nam thấy còn xử dụng Pháp Loa (Tù Và: vỏ ốc) vào các tang lễ của quý vị Hòa Thượng, Thượng Tọa, Trú Trì…

Phật giáo Tây Tạng thường dùng Pháp Loa khi hành lễ.

9/ KHÁNH:
 

 
Khánh làm bằng đá, có giá hoặc dây treo, dùng để báo hiệu lệnh trong chuà, hiện tại vẫn còn xử dụng tại các chùa ở Việt Nam.

10/ MỘC BẢN:
 

 
Làm bằng một miếng gỗ, dùng dùi đánh phát ra tiếng để thông báo giờ giấc. Thường treo ở phòng ăn của các chùa

II/ Pháp khí dành riêng cho Chủ Sám và Chứng Minh.

1/ THỦ XÍCH:

Là một thanh gỗ hình khối chữ nhật, kích thước vừa nằm dưới ba ngón tay giữa của lòng bàn tay. Trên lưng Thủ Xích có khắc 3 chữ “Án, Dạ, Hồng” theo tự dạng Pali, dùng để vỗ xuống bàn kinh, thành một hiệu lệnh cho đạo tràng.
 

 
2/ THỦ LƯ:
 

 
Là một cái lư hương có cán để cầm tay, tiếng đời nhà Ðường gọi là Thủ Lô. Thích Thị Yếu Lâm quyển trung ghi: “sách Pháp Uyển: Thiên Nhân Hoàng  Quỳnh nói về lư hương của Ðức Phật Ca Diếp đại để như sau: Phía trước có 16 con sư tử và voi trắng, trên đầu hai loại thú đó nổi lên hai đài sen làm lư. Phía sau có sư tử ngồi, trên đỉnh có 9 con rồng quấn nâng hoa vàng, hoa đó để làm lư. Trong có Kim Ðài Bảo Tử để đựng hương lúc Phật thuyết pháp thường cầm lư này.So sánh xem xét cách chế tác Thủ Lư đời nay cũng có phần mô phỏng theo  phép đó. Trong nghi lễ Phật Giáo Việt Nam, Thủ Lư thường thấy xử dụng trong trai đàn chẩn tế.
 

 
3/ TÍCH TRƯỢNG:

Tích Trượng là một trong 18 món đồ vật của Nhà Sư, còn được mang nhiều tên khác nhau như: Thanh Trượng, Minh Trượng, Trí Trượng, Ðức Trượng…là một cây gậy, ở đầu gậy có những vòng thiếc, khi rung phát ra tiếng.

Xuất xứ: Theo kinh Tích trượng có chép: Này các Tỳ Kheo, các ngươi nên thọ trì tích trượng, vì rằng tích trượng là một pháp khí mà ở đời các Như Lai đã có thọ trì.

Ý nghĩa: Tiếng Phạn gọi là Khiết khí la. Tàu dịch là Tích trượng, tức là cái gậy của các vị Tỳ kheo dùng để đi đường hay đi khất thực.
 

 
Tích trượng còn có tên là Đức trượng, nghĩa là chiếc gậy trí huệ và đức độ nầy mà người xuất gia học đạo giải thoát được vững tiến và hướng đến quả vị giải thoát. Trong kinh Tích trượng có chép:

Ngài Ca Diếp bạch Phật:

Bạch đức Thế Tôn, thế nào gọi là tích trượng? Đức Phật dạy các ý nghĩa sau đây:

- Tích có nghĩa là Khinh, có nghĩa là nhờ chiếc gậy đức hạnh và trí tuệ nầy mà phiền não được nhẹ đi và sớm ra khỏi cảnh sanh tử luân hồi.
- Tích cũng có nghĩa là Minh, nghĩa là được trí huệ sáng suốt, là hết khổ não.

Đường kính của chiếc tích trượng thì vừa đủ cho vòng tay của người xử dụng. Cũng còn được gọi với những tên: Thỉnh trượng hay Minh trượng. Vì, trong khi đến nhà ai, vị sa môn cần gõ tích trượng xuống đất để người trong nhà biết. Trên đầu tích trượng có bốn cái gọng và 12 cái vòng. Đó là biểu tượng cho tứ diệu đế và thập nhị nhơn duyên., buộc các tỳ kheo luôn luôn phải nhớ nghĩ, luôn luôn phải thực hành. Ngoài ra còn có loại tích trượng trên đầu chỉ có hai cái vòng và sáu cái khâu, thì nó tượng trưng cho chơn đế, tục đế và lục độ. Tích trượng nầy do đức Phật Ca Diếp chế ra. Tất cả hai loại tích trượng ấy đều không cao quá đầu người.

Tích rằng: Hiển Giáo dùng gậy khi khất thực và đuổi trùng thú. Tì Nại Da Tạp Sự quyển 34 nói: “Bật Sô đi khất thực vào nhà ai, bèn lên tiếng gọi báo cho biết và nắm tay gõ vào cửa, người nhà lấy làm lạ hỏi: “Tại sao lại gõ cửa nhà tôi?” Nhà Sư im lặng chẳng nói. Ðức Phật bảo: “Ðừng gõ cửa, mà nên làm cây gậy Tích Trượng”; Nhà Sư không hiểu, Ðức Phật nói: “Ở đầu cây gậy có gắn những vòng nhỏ bằng cái chén, khi rung gậy thì phát ra âm thanh để báo cho biết”. Khi đến nhà nào không có lòng tin, rung mãi cây Tích Trượng đến phát mệt, mà nhà ấy không ai ra hỏi, thì Ðức Phật bảo: “Không nên rung lâu cây Tích Trượng, chỉ nên rung 2 hay 3 lần mà thôi, nếu không có người ra hỏi, thì nên đi nơi khác”.Cách làm gậy thì y theo Tích Trượng Kinh.

Tích Trượng của Ðức Phật Ca Diếp có 2 gọng và 12 vòng tượng trưng cho 2 đế thứ nhất và thứ hai là Thế Ðế và Thập Nhị Nhân Duyên.Tích Trượng của Ðức Phật Thích Ca có 4 gọng và 12 vòng tượng trưng cho Tứ Ðế và Thập Nhị Nhân Duyên.

Mật Giáo thì cho đó là cây Thập Pháp Giới do 5 Ðại tạo thành, là Tam Muội Da của Ðức Ðịa Tạng, Quan Âm, nên có 6 vòng tượng trưng cho 6 Ðại. Trên đầu gậy có 5 bánh xe hình tròn tượng trưng cho Bảo Tháp. Phật Giáo Việt Nam thấy xử dụng Tích Trượng trong các lễ: Giải Oan Bạt Ðộ, Tang  Lễ theo ý nghĩa của Mật Giáo.
 

 
Các tích trượng của Bà la môn thì có bảy mắt và có ba bậc: sơ, trung và thượng. Theo phái Bà la môn thì cái gì cũng ở trong số bảy: * Bảy bậc tu, bảy quả đức, bảy sức linh.

Bảy bậc tu gồm:

- Tu tại gia,
- Tu vái các thần thánh thông thường,
- Tu biết biến hóa,
- Tu biết thần biến, linh thiêng,
- Tu cần thần thánh, không mặc quần áo,
- Tu thiền định,
- Tu bậc thượng, làm thầy cả các phép tu trên, là vì nối gót đại diện cho đức Phạm thiên.

Ngày xưa ở Ấn độ, họ thường quan trọng con số bảy, họ cho là huyền vi đến với con người. Cái gì họ cũng dùng và nghĩ đến số bảy như:

- Bảy vị tiên (Sapta-Rchirs),
- Bảy cảnh tiên (Sapta-Poura),
- Bảy hòn đảo tiên (Sapta-Douita),
- Bảy biển (Sapta-Samudra),
- Bảy sông linh (Sapta- Nady),
- Bảy núi linh (Sapta-Pariatta),
- Bảy chúng (Sapta-Coula),
- Bảy cảnh giới từ hạ đến thượng (Sapta-Loca),
- Bảy loại gồm cả trời đất thần thánh như: Jyus, Naranari, Viradji, Brahma, Vischnou-Siva

Riêng trong Phật giáo, ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát đã dùng tích trượng để đi vào địa ngục hướng dẫn cho thập loại chúng sanh đang bị đọa trong các cỏi ấy được hiểu rõ chánh pháp, được giải thoát lên các cảnh giới sung sướng hơn hay trực chỉ đến cảnh giác ngộ thành Phật. Mỗi khi ngài vào trong địa ngục, ngài dùng tích trượng gõ xuống đất thì các cửa ngục được mở ra, cho nên trong kinh có day: Chấn khai địa ngục chi môn.
 

 
Những vị sau khi đã đắc giới, liền được thừa truyền tích trượng. Trong khi nhận lãnh, các vị giới tử thầm niệm kệ chú sau đây:

Thiện tai khiết la,
Trí huệ công đức bổn,
Như pháp thọ trì giả,
Siêu đăng niết bàn ngạn.
Án, na lật thế, na lật thế, na lật tra, bát để, na lật đế, na dạ bát nễ hồng phấn tra (3 lần)


Nghĩa là:

Lành thay chiếc tích trượng,
Gốc công đức, trí huệ,
Thọ trì chư chánh pháp,
Sớm lên bờ niết bàn.
Án, na lật thế, na lật thế, na lật tra, bát để, na lật đế, na dạ bát nễ hồng phấn tra (3 lần)


Trên đây là kệ nhận tích trượng. Còn khi dùng đến thì câu chú y như vậy, nhưng câu kệ thì như sau:

Chấp trì tích trượng,
Đương nguyện chúng sanh,
Thiết đại thí hội,
Thị như thiệt đạo.


Nghĩa là:

Cầm giữ tích trượng,
Xin nguyện chúng sanh,
Thiết đại hội thí,
Chỉ đạo như thật.


4/ MŨ TỲ LƯ:
 

 
Ngày rằm tháng 7, mở hội Vu Lan Bồn, Vị Tăng Thủ Tọa đứng làm Ðức Phật Tỳ Lư, tụng kinh Thí Thực, trên đầu đội mũ có tượng Phật Tỳ Lư nên gọi là mũ Tỳ Lư.

Tỳ Lư là tên gọi tắt của Tỳ Lư Giá Na, tên chung của Pháp Thân Phật, tức là Ðức

Ðại Nhật Như Lai của Mật Giáo.

Phật Giáo Việt Nam, Mũ này các vị Gia Trì Sư thường đội trong Tang lễ hoặc Trai Ðàn Chẩn Tế.
 

 
5/ MŨ HIỆP CHƯỞNG:
 

 
Mũ này giống như hai bàn tay úp lại nên gọi là Hiệp Chưởng, chỉ riêng Phật Giáo Việt Nam mới có, do các vua triều Nguyễn chế ra để tặng cho các vị Tăng cang đội khi vào triều. Sau được dùng phổ cập, các vị Chủ Sám thường đội trong các pháp hội trai đàn.
 

 
6/ MŨ QUAN ÂM:
 

 
Mũ này may theo hình chóp, phủ xuống vai, ngang qua giữa lưng, thường các Ngài Chứng Minh đội trong các lễ đàn .

III/ Pháp Phục

1. Y: Tàu dịch là Ca sa, tức hoại sắc, bất chính sắc. Dùng để chư Tăng mặc. Những vị chính thức được có Y kể từ khi đã thọ giới luật. Sau khi đắc giới, giới sư quyền thừa Phật Tổ để truyền Y cho giới tử. Y cũng có nhiều bậc khác nhau.
 

 
Người thọ mười giới tức là Sa di thập giới: Vị nầy bắt đầu chính thức được ở trong hàng ngũ xuất gia. Những vị thọ mười giới thì chỉ được mặc (mang) chiếc Mạng Y là những chiếc y không có mạng (miếng) nhỏ, tức là Y không có Điều. Khi mặc Mạng y có bài kệ và chú như sau:

Đại tai giải thoát phục
Vô tướng phước điền y,
Phi phụng chư giới hạnh,
Quảng độ chư quần sanh.


Nghĩa là:

Lớn thay áo giải thoát,
Là ruộng phước không tướng,
Mặc kính đúng giới hạnh,
Rộng độ hết chúng sanh.
Nam Mô Ca Sa Tràng Bồ Tát Ma Ha Tát (3lần)


Vị thọ Cụ túc giới cũng gọi là Tỳ kheo giới hay Đại giới, được mặc những chiếc Y có những miếng vuông, thường gọi là Điều y. Y nầy có ba loại khác nhau như sau:

- Áo mặc ở ngoài gọi là Tăng già lê,

- Áo mặc ở giữa gọi là Uất đà la tăng,

- Áo mặc trong, áo lót gọi là An đà hội.

Chiếc áo Tăng già lê cũng có các bậc khác nhau như:

Ngũ điều y, Thất điều y và Đại y

a. Chiếc y có năm miếng thì gọi là Ngũ điều. Khi mặc chiếc y nầy thì đọc bài kệ chú và phát nguyện như sau:

Thiện tai giải thoát phục,
Vô thượng phước điền y,
Ngã kim đảnh đới thọ,
Thế thế bất xả ly.
Án, tất đà da tóa ha (3 lần).


Nghĩa là:

Lành thay áo giải thoát,
Áo ruộng phước vô thượng,
Nay con đầu đội nhận,
Đời đời không lìa bỏ.
Án, tất đà da tóa ha (3 lần)


b. Chiếc y có bảy miếng thì gọi là Thất điều. Khi mặc chiếc y nầy cũng đọc kệ chú và phát nguyện:

Thiện tai giải thoát phục,
Vô thượng phước điền y,
Ngã kim đảnh đới thọ,
Thế thế thường đắc phi.
Án, độ ba độ ba tóa ha (3 lần)


Nghĩa là:

Lành thay áo giải thoát,
Áo ruộng phước vô thượng,
Nay con đầu đội nhận,
Đời đời thường được mặc.
Án, độ ba độ ba tóa ha (3 lần)

 

 
- Chiếc y từ 9 miếng trở lên 25 miếng thì gọi là Đại y. Đại y cũng có ba bậc:

- Chiếc Y có 9 miếng, 11 miếng, 13 miếng thì gọi là Hạ Đại Y,

- Chiếc Y có 15 miếng, 17 miếng, 19 miếng thì gọi là Trung Đại Y,

- Chiếc Y có 21 miếng, 23 miếng, 25 miếng thì gọi là Thượng Đại Y.

Khi mặc (trong thiền môn thì gọi là đắp) ba bậc Đại y trên đây cũng đọc kệ, chú và phát nguyện như nhau, dưới đây:

Thiện tai giải thoát phục,
Vô thượng phước điền y,
Phụng trì Như Lai mạng,
Quảng độ chư chúng sanh.
Án, ma ha bà ba tra tất đế tóa ha (3 lần)


Nghĩa là:

Lành thay áo giải thoát,
Áo ruộng phước vô thượng,
Vâng giữ Như Lai mạng,
Rộng độ hết quần sanh.
Án, ma ha bà ba tra tất đế tóa ha (3 lần)


Những chiếc y nầy đã có từ đời đức Phật. Chiếc y đầu tiên được cúng dường cho chư Tăng là chiếc y của bà Di mẫu của đức Phật (tức là bà Tỳ kheo ni đầu tiên tên Kiều Đàm Di).

Y của chư Tăng được gọi rất nhiều tên: Hoại nạp phục, Hoại sắc phục, Pháp phục, Pháp y, Ứng pháp diệu phục, Liên hoa phục, Giải thoát phục, Giải thoát tràng tướng phục, Xuất thế phục, Ly trần phục, Vô cấu phục, ... Nói chung là Ca sa tràng Như Lai, nghĩa là áo của chư Phật, chính là lòng nhu hòa nhẫn nhục như trong kinh Pháp hoa đã dạy.

2. Bát:
 

Xuất xứ: Trong kinh Phật bổn hạnh có nói: Khi đức Phật còn tại thế, có hai thương gia là Đế ly phú bà và Bạt ly ca đều đều ở phía bắc Ấn độ; hai vị nầy, một hôm đem sữa cúng dường đức Phật, nhưng đức Phật không có đồ đựng. Lúc bấy giờ có bốn vị thiên vương đem bốn cái bát bằng vàng đến dâng cúng đức Phật để đựng sữa, ngài không nhận. Bốn vị thiên vương ấy lại trở về đem bốn cái bát khác bằng những thứ quý: ngọc, ngà, xa cừ, ... để dâng cúng đức Phật, ngài cũng không nhận. Sau cùng bốn vị ấy đem dâng cúng bốn cái bát khác bằng đá, đức Phật rất hoan hỷ.

Ý nghĩa: Chữ Bát, tiếng phạn gọi là Bát đa la, Tàu dịch là Ứng lượng khí. Nghĩa là đồ dùng để chứa đựng các thực phẩm chỉ đủ vừa sức ăn cho một người.

Bình bát chỉ được làm bằng đá, bằng sành, bằng đất sét nung thật chín rồi tráng men bên trong cho khỏi rĩ nước, chứ không được làm bằng vàng bạc hay tất cả những kim khí quý, ... Nếu dùng bằng kim khí quý thì không đúng phẩm hạnh của bậc xuất gia. Các vị đã phát tâm xuất gia tức là tập hạnh xả bỏ tất cả, kể cả thân mạng nếu cần và đúng với chánh pháp, nghĩa là xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo.

Đặc biệt bình bát không nên làm bằng gỗ, vì đây là loại bát của Bà la môn đã thường dùng.
 

 
Ở các nước theo Nguyên Thủy (Nam Truyền) Phật giáo, chư Tăng thường đi khất thực nên thường dùng bình bát. Các nước theo Đại thừa Phật giáo (Bắc truyền) thì không đi khất thực nên chỉ dùng bình bát trong ba tháng an cư kiết hạ, có nơi còn ba tháng kiết đông nữa; đồng thời, thỉnh thoảng có quý thí chủ phát tâm cúng dường trai tăng thì cũng dùng bình bát để cúng Phật trước khi thọ trai. (Việt nam có thêm hệ phái Khất sĩ cũng có đi trì bình khất thực).

Sau khi các vị đã đắc giới, chư giới sư trao truyền bình bát và bắt đầu trì bình từ đó. Mỗi khi dùng bình bát, tâm thường niệm:

Thiện tai Bát đa la,
Như lai ứng lượng khí,
Phụng trì dĩ tư thân,
Trưởng dưỡng trí huệ mạng.
Án, chỉ rị chỉ rị phạ nhựt ra hồng phấn tra (3 lần)


Nghĩa là:

Lành thay bát đa la,
Ứng lượng khí của Phật,
Vâng giữ để tu thân,
Nuôi lớn thân và trí,
Án, chỉ rị chỉ rị phạ nhựt ra hồng phấn tra (3 lần)


Mỗi lần đi khấc thực, tay nâng bình bát đang còn trống không, đức Phật dạy đệ tử của ngài không phiền muộn, không lo lắng mà phải an tịnh và thầm nguyện:

Nhược kiến không bát,
Đương nguyện chúng sanh,
Cứu cánh thanh tịnh,
Không vô phiền não.


Nghĩa là:

Nếu thấy bát không,
Xin nguyện chúng sanh,
Rốt ráo thanh tịnh,
Trống không phiền não.


Và, sau đó thí chủ đã cúng dường phẩm vật đầy đủ, thầm nguyện tiếp như sau:

Nhược kiến mãn bát,
Đương nguyện chúng sanh,
Cụ túc thạnh mãn,
Nhất thế thiện pháp.


Nghĩa là:

Nếu thấy bát đầy,
Xin nguyện chúng sanh,
Chứa đựng đầy đủ,
Tất cả pháp lành.


Mỗi lần dùng bình bát trước và sau khi khất thực hay trước và sau khi thọ trai do tín chủ cúng dường đều phải lau chùi sạch sẽ. Thứ nhất là bát phải sạch sẽ để chứa đựng phẩm vật dâng cúng Tam bảo, kế đến la mình dùng; thứ hai là sau khi dùng xong cũng phải rửa sạch, lau khô để cất giữ cho hợp vệ sinh, cũng thầm niệm bài kệ tẩy bát như sau:

Tẩy bát:

Dĩ thử tấy bát thủy,
Như thiên cam lộ vị,
Thí dữ chư quỷ thần,
Tất giai hoạch bảo mãn
Án, ma hưu ra tất tóa ha (3 lần)


Nghĩa là:

Rửa bát:

Lấy nước rửa bát nầy,
Như nước vị nước cam lồ
Đem cho các quỷ thần,
Được no đủ tất cả.
Án, ma hưu ra tất tóa ha (3 lần)


Cũng như trên, mỗi khi rửa bình bát hoặc là nhận phẩm vật thì cũng phải mở ra; mỗi lần mở ra như vậy, cũng thầm đọc câu kệ chú như sau:
Triển bát:

Như lai ứng lượng khí,
Ngã kim đắc phu triển,
Nguyện cọng nhất thế chúng,
Đẳng tam luân không tịch
Án, tư ma ma ni tóa ha (3 lần)


Nghĩa là:

Mở bát:

Ứng lượng khí của Phật,
Con nay được giải mở,
Nguyện cùng với mọi người,
Ba vầng đều vắng lặng.
Án, tư ma ma ni tóa ha (3 lần)


3. Đãy lọc nước:
 

 
Xuất xứ: Ngày khi đức Phật chứng thành đạo quả, ngài dùng huệ nhãn, xem thấy trong nước có vô số vi trùng (cũng là chúng sanh), ngài liền truyền dạy cho hàng đệ tử, nhất là hàng xuất gia đều phải có một cái túi bằng vải để lọc nước trước khi uống.

Định nghĩa: Đạo Phật là đạo từ bi. Đạo Phật tôn trọng mạng sống. Vì khi uống nước mà không dùng đãy lọc nước để lọc thì mắc phải tội ăn thịt chúng sanh. Chúng sanh được tôn trọng, trên từ bậc thánh nhơn chư Tăng, loài người, dưới đến các loài có chân, không chân hay có cánh, không cánh được giữ gìn, bảo vệ mà không nên sát hại.

Bởi thế cho nên, hàng xuất gia phải dùng những vật thực không liên hệ đến mạng sống của chúng sanh. Một khi đã phát tâm xuất gia, đã được thọ giới thì cần phải có đãy lọc nước. Tàu dịch là Lự thủy nang. Khi nhận thọ thì thầm nguyện:

Thiện tai lự thủy nan,
Hộ sanh hành tự cụ,
Xuất nhập thường đới dụng,
Phương hợp Bồ tát đạo.
Án, phạ tất ba ra ma ni tóa ha (3 lần)


Nghĩa là:

Lành thay đãy lọc nước,
Vật bảo trợ mạng sống,
Ra vào thường dùng đến,
Mới hợp đạo Bồ đề.
Án, phạ tất ba ra ma ni tóa ha (3 lần)


4. Ngọa Cụ:
 

 
Ngọa tức là nằm. Dụng cụ dùng để ngồi nằm. Quý vị xuất gia thường dùng hằng ngày cho nên trong luật Trường hàng gọi là Nhật dụng.

Ngày xưa khi đức Phật còn tại thế, chư Tăng sống không lập chùa, viện, tịnh thất như ngày nay. Trong tay chỉ có bình bát, ba chiếc y, một tích trượng, một đãy lọc nước và một ngọa cụ mà thôi. Đi đâu mang tất cả những pháp phục ấy theo bên mình.

Ngày nay chư Tăng có chùa, có tòng lâm, có Phật học viện, có tu viện, tịnh thất, ... nên ít dùng đến ngọa cụ và tích trượng trừ khi tấn đàn truyền giới và trao giới cho giới tử phát tâm đăng đàn cầu giới pháp để tu. Ngọa cụ cũng được dùng trong lúc đăng đàn chẩn tế, nhưng được gọi là tọa cụ chứ không gọi ngọa cụ như trong luật tiểu. Khi dùng ngọa cụ thì thầm nguyện câu kệ và chú như sau:

Ngọa cụ ni sư đàn,
Trưởng dưỡng tâm miêu tánh,
Triển khai đăng thánh địa,
Phụng trì Như Lai mạng.
Án, a mật lật đế hồng phấn tra (3 lần)


Nghĩa là:

Ngọa cụ (tên) ni sư đàn,
Nuôi lớn lúa tâm tánh,
Mở ra lên đất thánh,
Phụng giử mạng Như Lai,
Án, a mật lật đế hồng phấn tra (3 lần)

 

 
Trên đây là những pháp khí và pháp cụ có từ thời đức Phật đã được tổ tổ thừa truyền cho đến ngày nay. Những gì được viết ra trong bài nầy hoàn toàn gần như chỉ dành riêng cho hàng xuất gia, nhưng phải cần cầu giới pháp, có thọ giới và đã đắc giới. Và tùy theo giới mà thọ dụng khác nhau như: Y, Bát, Tích trượng và Ngọa cụ, .... Ngoài ra, những pháp khí khác thì những vị tân xuất gia và Phật tử tại gia đều có thể dùng được như nhau. Vậy bài nầy quý vị nào trong hàng tại gia được phước báo thọ dụng thì cũng nên tuân theo lời Phật dạy để hành trì đúng như pháp; nếu không thông thuộc, nên y chỉ chư Tăng.
 
 
Tác giả bài viết: Thích Chúc Xuân
 

Ý Nghĩa Và Giá Trị Của Hoạt Động Từ Thiện

image
Hoạt động từ thiện hay bố thí mang lại an vui, lợi lạc cho chúng sinh, góp phần giảm thiểu những khó khăn trong đời sống, giảm thiểu niềm đau nỗi khổ. Những việc làm này vừa có giá trị đối với đời sống vật chất lẫn tinh thần.

Trong Phật giáo, từ thiện có thể hiểu là hành động thiện xuất phát từ lòng từ bi. Bất cứ việc làm nào mang lại lợi ích cho tha nhân bắt nguồn từ tâm xả kỷ vị tha, cứu khổ ban vui đều mang ý nghĩa từ thiện.

Bố thí (Dàna) trong Phật giáo có tài thí, pháp thí và vô úy thí được xem là pháp gồm thâu tất cả những việc làm từ thiện.  1.Tài thí là bố thí về vật chất, gồm có bố thí nội tài và ngoại tài. Ngoại tài là những tài sản của cải vật chất ngoài thân như tiền bạc, thực phẩm, các vật dụng, phương tiện cần thiết trong đời sống… Giúp đỡ cho cá nhân; đóng góp, hỗ trợ cho tổ chức, cộng đồng, xã hội về phương diện vật chất nhằm giải quyết khó khăn, đem lại ấm no, hạnh phúc cho tha nhân được xem là tài thí. Nội tài là tài sản trong thân như mắt, tai, mũi, lưỡi, các cơ quan bộ phận của cơ thể, kể cả sự sống thân mạng. Ngày nay những việc làm tiêu biểu cho bố thí nội tài là hiến máu, hiến xác, hiến nội tạng cho y học để cứu sống bệnh nhân, hoặc hy sinh thân mạng vì hòa bình thế giới, vì an lạc, hạnh phúc của nhân loại chúng sinh, hoặc xả thân vì đạo pháp… 2. Pháp thí là bố thí giáo pháp; truyền trao, phổ biến giáo pháp, mang Phật pháp vào đời làm lợi lạc chúng sinh, cụ thể như mở trường Phật học, viện nghiên cứu, giảng kinh thuyết pháp; phiên dịch, trước tác, in ấn kinh điển, biên soạn, phát hành sách báo v.v.. Pháp thí chú trọng đời sống tinh thần, đời sống văn hóa, tâm linh, đạo đức. Giá trị của pháp thí trong tu học Phật pháp là giúp chúng sinh “chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc”, giải thoát phiền não khổ đau; trong phạm vi thế tục là giúp con người giải quyết những khó khăn, bế tắc trong đời sống cá nhân và xã hội, hướng con người đến những giá trị hạnh phúc đích thực.  Ngoài ra, trên tinh thần nhập thế, tự lợi song hành lợi tha, pháp thí còn là việc quan tâm phát triển giáo dục, đào tạo con người trên nhiều phương diện, lĩnh vực: hướng nghiệp dạy nghề, truyền trao kiến thức, kinh nghiệm nghề nghiệp, phương thức làm việc để xây dựng, cải thiện cuộc sống, đóng góp cho xã hội, huấn luyện kỹ năng sống, định hướng lý tưởng sống, cụ thể như mở cơ sở giáo dục, trường học dạy chữ, dạy nghề, đào tạo chuyên môn, tư vấn học tập, định hướng nghề nghiệp; mở các lớp rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng làm việc v.v..  3.Vô úy thí là bố thí không sợ hãi, có nghĩa là giúp chúng sinh vượt qua lo lắng, sợ hãi, bất an, có được tâm an ổn. Vô úy thí bao gồm cả tài thí và pháp thí nhưng ý nghĩa phát triển rộng hơn. Bởi tùy theo hoàn cảnh khổ của chúng sinh, tùy theo nhu cầu của chúng sinh mà tài thí hoặc pháp thí có vai trò cứu khổ ban vui, mang lại niềm an vui không sợ hãi cho chúng sinh. Tuy nhiên ý nghĩa của vô úy thí rộng hơn ở chỗ dùng lời nói để làm an lòng người đang lo lắng, khổ não; dùng hành động bảo vệ, che chở họ, giúp họ vượt qua nỗi sợ hãi, bất an. Hành động của các vị lương y, bác sĩ giúp bệnh nhân vượt qua bệnh khổ và nỗi sợ hãi bênh tật, sợ hãi cái chết; hành động cứu hộ thiên tai; hành động bảo vệ công lý, chống chiến tranh, vận động bảo vệ hòa bình; chủ trương các chính sách an dân, lợi lạc nhân sinh đều mang ý nghĩa vô úy thí.

Hình ảnh biểu tượng Quán Thế Âm Bồ tát trong Phật giáo Bắc truyền được tôn xưng là “Thí vô úy giả” (bậc bố thí vô úy) với ba mươi hai ứng hóa thân đã bao hàm đầy đủ ý nghĩa vô úy thí. Ba mươi hai ứng hóa thân của Bồ tát Quán Thế Âm là Phật, Bích Chi Phật, Thinh văn, Duyên giác, Phạm vương, Đế Thích, Tự tại thiên, Đại Tự tại thiên, Thiên Đại Tướng quân, Tỳ Sa Môn thiên, Tiểu vương, trưởng giả, cư sĩ, tể quan, Bà la môn, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Bà la môn phụ nữ, đồng nam, đồng nữ, trời, người, dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lầu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Chấp Kim cang thần. Ở đây là một số ứng hóa thân tiêu biểu của Bồ tát Quán Thế Âm được nói đến trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Phổ Môn, nhưng theo giáo nghĩa của các kinh Thiên thủ Thiên nhãn Quán Thế Âm Đại bi Tâm Đà la ni hoặc kinh Thủ Lăng Nghiêm thì Bồ tát Quán Thế Âm có thể hiện ra nhiều ứng hóa thân khác để tùy duyên hóa độ chúng sinh. Trong nhiều ý nghĩa sâu rộng của hình tượng Bồ tát Quán Thế Âm với vô số ứng hóa thân, có ý nghĩa nhiều thành phần xã hội (trí thức, bình dân, giàu, nghèo, nhà văn hóa, nhà chính trị, doanh nhân, nhà tâm linh, kỹ sư, bác sĩ, nông dân, công nhân…) với những vai trò và vị thế khác nhau đều có khả năng bố thí vô úy, mang lại an vui cho người khác nếu như người đó có trí tuệ, năng lực độ sinh và lòng từ bi như Bồ tát.

Cả hai hệ thống giáo lý Nam truyền và Bắc truyền đều đề cao vai trò, tầm quan trọng của bố thí hay từ thiện. Đó là việc làm đầy đủ ý nghĩa tự lợi và lợi tha. Về lợi tha, bố thí mang lại niềm an ủi, sự lợi lạc cho chúng sinh trong hiện tại và tương lai (Những giá trị lợi ích của bố thí sẽ bàn rộng ở phần sau). Bố thí xuất phát từ lòng từ bi là thực hiện bổn hoài cứu khổ ban vui, hạnh nguyện độ sinh của chư Phật. Ngay từ buổi đầu giáo đoàn mới thành lập, Đức Phật đã dạy hàng đệ tử xuất gia như sau: “Hãy ra đi, các Tỳ kheo, đem sự tốt đẹp lại cho nhiều người, đem hạnh phúc đến cho nhiều người. Vì lòng từ bi, hãy đem sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc lại cho chư Thiên và nhân loại” (Đức Phật và Phật pháp – Nàrada, Phạm Kim Khánh dịch, NXB Tôn giáo, 2005). Đây được xem là thông điệp của lòng từ bi cứu khổ ban vui. Không chỉ thời Đức Phật còn tại thế, mà ngày nay chư Tăng và hàng Phật tử tại gia là những người thừa hành, kế tục sự nghiệp độ sinh của Đức Phật vẫn luôn ghi nhớ thông điệp từ bi đó. Những ai ngưỡng mộ Đức Phật và giáo lý của Ngài, muốn hướng đến phương trời cao rộng cũng thực hành theo thông điệp đó.

Về mặt tự lợi, trong Anguttara Nikàya (Tăng Chi Bộ kinh) ghi lại lời dạy của Đức Phật như sau:“Người có bố thí, khi được làm một vị trời hoặc được làm người đều vượt qua người không bố thí trên năm phương diện, đó là thọ mạng, nhan sắc, an lạc, danh xưng và tăng thượng” (ĐTKVN, Tăng Chi Bộ kinh II, chương V, phẩm Sumanà, VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.351); “Có người bố thí với tâm không mong cầu, bố thí với tâm không trói buộc, bố thí không với ý nghĩ “ta sẽ hưởng thọ cái này ở đời sau”, chỉ bố thí với ý nghĩ “lành thay sự bố thí”. Vị ấy bố thí để trang nghiêm tâm. Do bố thí như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh cộng trú với chư Thiên ở cõi trời Phạm chúng. Khi nghiệp lực đoạn tận, thần lực, danh tiếng và uy quyền đoạn tận, vị ấy trở thành vị Bất lai, không trở lui trạng thái này” (ĐTKVN, Tăng Chi Bộ kinh III, chương VII, phẩm Tế đàn, phần Bố thí, VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.355).

Giáo lý Bắc truyền xem bố thí là một trong sáu hạnh căn bản không thể thiếu của người tu Bồ tát đạo (Lục độ hay Lục Ba la mật-Paramitas), gọi là Bố thí Ba la mật (Đàn Ba la mật-Dâna Paramita). Các pháp Ba la mật còn lại là: Trì giới (sila), nhẫn nhục (Kshânti), tinh tấn (Virya –tiếng Pàli là Viriya)), thiền định (Dhyana -tiếng Pàli là Jhàyanti) và trí tuệ (Prajnâ -tiếng Pàli là Pannà). Kinh Hoa Nghiêm có nói: “Bồ tát là nhà đại thí chủ, có bao nhiêu của cải bình đẳng thí cho chúng sinh mà không hối tiếc, chẳng mong quả báo, chẳng cầu danh vọng, chẳng cầu sinh về chỗ tốt hơn, cẳng cầu lợi dưỡng. Bồ tát chỉ muốn cứu độ tất cả chúng sinh, muốn mang lại lợi ích cho chúng sinh, muốn học theo bổn hạnh của các Đức Phât, muốn thọ trì bổn hạnh của các Đức Phật và muốn khiến tất cả chúng sinh lìa tất cả khổ, được vui rốt ráo” (Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, Bản Hán dịch của Đại sư Thật Xoa Nan Đà). Trong kinh Kim Cang Bát nhã Ba la mật, Đức Phật dạy về công đức bố thí như sau: “Nếu Bồ tát bố thí với tâm không trụ tướng, phước đức ấy chẳng thể suy lường” (Nhược Bồ tát bất trụ tướng bố thí, kỳ phước đức bất khả tư lương) (Kinh Kim Cang Bát nhã Ba la mật, Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch). Bố thí với tâm không trụ tướng theo tinh thần kinh Kim Cang Bát nhã là chẳng trụ nơi sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí. Hay trong kinh Tứ Thập Nhị Chương: “Thấy người làm đạo bố thí vui vẻ giúp đỡ thì được phước rất lớn” (Đỗ nhơn thí đạo, trợ chi hoan hỷ, đắc phước thậm đại)(Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Pháp sư Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan đồng dịch). Lời kinh này Đức Phật dạy, dù chỉ phát tâm tùy hỷ trước việc làm từ thiện của người khác, hoặc hỗ trợ việc làm từ thiện của người khác cũng có được phước báo, từ đó cho thấy lợi ích của từ thiện-bố thí không phải nhỏ.

Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ CỦA HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN (BỐ THÍ)

Về phương diện cá nhân

1. Hoạt động từ thiện hay bố thí là gieo nhân duyên lành để tạo quả phúc cho hiện tại và tương lai. Trong kinh Tăng Chi Bộ II, Đức Phật có dạy: “Có năm lợi ích của bố thí: được nhiều người ưa thích, mến mộ; được Thiên nhân và các bậc chân nhân thân cận; tiếng đồn tốt đẹp được truyền đi; không có sai lệch pháp của người gia chủ; khi thân hoại mạng chung được sinh lên cõi lành, Thiên giới”. Kinh Phân Biệt Nghiệp Báo cũng dạy: “Thường vui tu trí tuệ mà chẳng tu bố thí, đời sau được thông minh nhưng nghèo túng không của cải; chỉ vui tu bố thí mà chẳng tu trí tuệ, đời sau được giàu sang nhưng ngu si chẳng biết gì; Bố thí và trí tuệ đều song tu, đời sau giàu sang lại có trí tuệ, Cả bố thí và trí tuệ đều chẳng tu, nhiều kiếp ngu si lại nghèo khó”. Thật ra tự bản thân những việc làm từ thiện đã là niềm vui lớn như lời người xưa nói: “Làm lành rất vui, đạo lý rất lớn” (Vi thiện tối lạc, đạo lý tối đại).

2. Hoạt động từ thiện hay bố thí là một phương tiện thực hành hạnh xả ly, chuyển hóa tâm tham lam, vị kỷ để dần dần đạt đến tinh thần vô ngã. Nếu thực hành bố thí đúng pháp như Đức Phật đã dạy, người tu học Phật sẽ thực chứng vô ngã.

3. Từ thiện, bố thí là pháp tu nhằm nuôi dưỡng và phát triển lòng từ bi, nền tảng căn bản của Bồ tát đạo. Hành giả tu học Phật hướng đến giác ngộ, giải thoát, thành tựu đạo quả Vô Thượng Bồ Đề phải trải qua quá trình hành Bồ tát đạo trong đó có việc cứu độ chúng sinh. Những câu chuyện về tiền thân Đức Phật được ghi lại trong kinh Bổn Sinh (Jàtaka) cho biết, trong vô lượng kiếp khi còn hành Bồ tát đạo, Đức Phật đã dấn thân phụng sự đạo pháp, phụng sự chúng sinh, từng bố thí tài sản, sự nghiệp, vợ con, thậm chí cả thân mạng để làm lợi ích cho chúng sinh. Đức Phật dạy trong kinh Niết Bàn như sau: “Đại từ đại bi gọi là Phật tánh. Từ tức Như Lai, Như Lai tức từ”.Tâm từ bi là tâm Phật, vậy muốn trở thành Phật không thể không có tâm từ bi.

4.Hành động từ thiện, bố thí cứu khổ ban vui tạo nhân duyên lành với tất cả chúng sinh, cởi mở mọi oán kết trong hiện đời và vô lượng kiếp quá khứ, từ đó có được nhân duyên hóa độ làm lợi lạc chúng sinh. Ngay cả Đức Phật cũng không thể hóa độ người không có nhân duyên với Ngài (Phật hóa hữu duyên nhơn), vì thế việc “quảng kết thiện duyên” thông qua các việc làm từ thiện, tài thí, pháp thí và vô úy thí mang ý nghĩa hết sức quan trọng. Luận Đại Trượng Phu có dạy: “Đem của bố thí làm cho chúng sinh mến, đem pháp bố thí thường được thế gian kính trọng. Thí của được kẻ ngu mến, thí pháp được người trí trọng, thí của phá trừ cái nghèo cùng về của, thí pháp phá trừ cái nghèo cùng về công đức. Hai món thí này ai chẳng kính trọng. Cho của là cho vui hiện tại, cho pháp là cho vui Niết bàn tương lai”. Lời dạy này cho thấy việc hành thiện, bố thí bao hàm cả ý nghĩa tự lợi và lợi tha.

Về phương diện xã hội, chúng sinh

Hoạt động từ thiện hay bố thí mang lại an vui, lợi lạc cho chúng sinh, góp phần giảm thiểu những khó khăn trong đời sống, giảm thiểu niềm đau nỗi khổ. Những việc làm này vừa có giá trị đối với đời sống vật chất lẫn tinh thần.

Các hoạt động từ thiện hay bố thí thông qua việc quan tâm, chia sẻ sẽ xóa bớt khoảng cách giàu nghèo, sự chênh lệch trong đời sống xã hội, và đặc biệt là giúp con người gần nhau hơn trong mối tương quan xã hội.

Khi những cá nhân thoát khỏi đói nghèo, thoát khỏi ngu dốt do mù chữ, thiếu hiểu biết, và khi họ biết sống lương thiện, có đạo đức thì xã hội không còn gánh nặng về trật tự, trị an do vấn đề bạo động và tệ nạn xã hội gây nên. Đó là nguyên lý duyên sinh: “Do cái này có mặt nên cái kia có mặt, do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt; do cái này sinh nên cái kia sinh, do cái này diệt nên cái kia diệt” (Thử hữu cố bỉ hữu, thử vô cố bỉ vô; thử sinh cố bỉ sinh, thử diệt cố bỉ diệt) (Kinh Phật Tự Thuyết - Tiểu Bộ kinh I). Các cá thể làm nên cộng đồng, xã hội, quốc gia, làm nên thế giới, mỗi cá thể có quan hệ cộng sinh, cộng tồn với cá thể khác, với cộng đồng, xã hội, quốc gia và thế giới. Bất ổn ở chỗ này sẽ sinh bất ổn ở chỗ khác và ngược lại, sự bình ổn, hưng thịnh ở phương diện này sẽ kéo theo sự bình ổn, hưng thịnh ở phương diện khác.

Cũng tương tự, trong ý nghĩa “Pháp giới trùng trùng duyên khởi”, theo thế giới quan của kinh Hoa Nghiêm, thì mọi sự vật hiện tượng trong đó có con người và muôn loại chúng sinh đều có các mối tương quan mật thiết, thực chất là ta có trong mỗi chúng sinh và mỗi chúng sinh có trong ta, do đó độ chúng sinh cũng chính là tự độ, việc từ thiện hay bố thí có ý nghĩa vô cùng trọng đại. Luận Đại Trượng Phu có nói: “Người có lòng từ bi hay thương tất cả chúng sinh, mà thương chúng sinh tức là thương mình vậy”.

Trong đời sống thế tục, một xã hội, một quốc gia bất ổn về chính trị sẽ dẫn đến chiến tranh, nội loạn; Bất ổn về kinh tế; tình trạng đói nghèo sẽ dẫn đến trộm cướp, mại dâm, lừa đảo; Văn hóa, đạo đức suy đồi sẽ dẫn đến sự sa đọa trong lối sống, gia đình và xã hội bất ổn, nhiều tệ nạn phát sinh. Khủng hoảng kinh tế, đời sống xã hội bất ổn, người dân long đong khốn khổ có thể dẫn đến bất ổn chính trị.  Đó là do mọi sự vật tương quan tương duyên với nhau mà sinh khởi. Chỉ có sự san sẻ, chia sớt, chỉ có sự hy sinh, cống hiến, phụng sự chúng sinh trên tinh thần vô tư không vụ lợi, trên tinh thần từ bi, bình đẳng, vô ngã, vị tha mới thiết lập được xã hội bình ổn và an vui hạnh phúc.

                                                       Phan Minh Đức - Nguồn: daophatngaynay.com

 

Bài giảng ý nghĩa Đại lễ Phật đản PL. 2559

Năm nay, Phật lịch 2559, ngày Phật đản lại về. Một lần nữa ý nghĩa thông điệp Hòa bình của Đức Bản sư Thích ca Mâu ni thật vô cùng cần thiết, tưởng như những lời vàng từ chính kim thân của Ngài đang âm vang, nhắc nhở, khích lệ những người con Phật hãy nỗ lực tu tập, điều ngự thân, khẩu, ý để hòa nhập với mọi người trong tình thương yêu.

Ý NGHĨA PHẬT ĐẢN – PL 2559

Ý PHÁP HÒA BÌNH PHỤNG SỰ NHÂN SINH

Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm

Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN

Trưởng ban Hoằng pháp Trung ương  

Cách đây 2.639 năm, tức năm 624 trước Tây lịch, một sự kiện vĩ đại, hy hữu đã xảy ra tại Ấn Độ cổ đại: Mặt đất rung chuyển theo sáu cách, hoa trời tuôn rơi, nhạc trời lừng vang trong ánh vàng rực rỡ, chúng sinh trong ba cõi được tắm mình trong hào quang bi trí của đấng Pháp vương tối thượng - Đức Bản sư Thích ca Mâu ni Phật đản sinh dưới cây vô ưu, vườn Lâm tì ni, gần thành Ca tì la vệ. Sự kiện này báo trước một thông điệp sẽ ứng nghiệm vào 36 năm sau, sau khi Đức Bản sư chứng đạo: Thông điệp của Hòa bình.

Ý nghĩa Hòa bình thường được nêu lên khi đang có chiến tranh, có những tai họa, đổ nát, tang tóc do chiến tranh gây ra. Vì thế, các từ điển phương Tây thường định nghĩa hòa bình bằng từ Latinh - Pax. Pax là tên của một nữ thần La Mã, nữ thần của Hòa bình, trái với thần Mars, thần chiến tranh của Hy Lạp. Từ đó, hòa bình được gọi là Paix, Peace, Pace, Paz… tùy theo ngôn ngữ của từng quốc gia và được định nghĩa là giai đoạn không có cuộc chiến tranh nào đáng kể. Thế nhưng bạo lực, tranh chấp, kỳ thị, chia rẽ, gây hại cho nhau, chém giết nhau, thù hằn v.v… vẫn xảy ra hằng ngày, nhất là từ khi loài người bước vào thời kỳ lịch sử: Có giai cấp và có nhà nước. Đó chính là kết quả của tham, sân, si, là mầm gây đau khổ triền miên, luân hồi trong sáu nẻo; đó là sự thể hiện của cái tâm vọng động, u tối... vì thế ta có thể nói, giáo pháp của Đức Phật chính là bản thông điệp về Hòa bình, hòa bình với ngoại giới và hòa bình tại nội tâm, là thông điệp của Tình thương.

Thế giới hiện nay đang diễn ra rất nhiều xung đột, xung đột về vật chất, quan điểm và tư tưởng, song chung quy đều xuất phát từ lòng tham dục của con người. Ý thức được nguyên nhân này, trong Đại Kinh Khổ Uẩn, Đức Phật đã nhắc nhở các vị tỳ khiêu phải thường xuyên cảnh tỉnh bản thân trước tai họa của tham dục. Người nói: "Này các tỳ khiêu, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nhân duyên nên sinh ra tranh đoạt. Một khi đã tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt sẽ dẫn đến công phá nhau bằng tay, công phá nhau bằng đá, công phá nhau bằng gậy… Điều này sẽ dẫn đến tử vong, dẫn đến sự đau khổ. Lại nữa, này các tỳ khiêu, do dục làm nhân… dẫn đến việc họ bắn nhau bằng tên, họ đâm nhau bằng dao, bằng kiếm… điều này sẽ dẫn đến việc họ bị đến tử vong, đi đến sự đau khổ”.

Đức Phật còn tự nói về bản thân: "Này các tỳ khiêu, ta không tranh chấp với đời, chỉ có đời tranh chấp với ta. Này các tỳ khiêu, người nói pháp không tranh chấp với một ai ở đời" (Tương Ưng III. 165). Ngài đã hạn chế các cuộc tranh chấp và chiến tranh bằng cách khuyên mọi người sống bố thí, tiết độ và hành thiền. Bố thí nhằm hạn chế lòng tham, tiết độ để chế ngự dục vọng và hành thiền để có được hạnh phúc tâm linh thay thế các thú vui dục lạc thường tình ở thế gian.

Với kho tàng pháp bảo uyên thâm, tùy thuận chúng sinh, giáo lý của Đức Phật mãi là ngọn đuốc sáng để cho ta nương tựa để tự thân an lạc, sự buông xả tự ngã chính là yếu tố đưa đến hòa giải sự xung đột.

Ngài dạy:

"Mong sao không có kẻ nào lừa gạt người khác, Cũng không hề chút nào lừa gạt kẻ khác, Không vì ác tâm thù hận mà muốn kẻ khác sầu khổ… Tâm mình phải quảng đại, Lòng từ đối với toàn cõi thế gian, Quảng đại khởi lên từ tâm mình, Bên trên bên dưới và xuyên suốt, Không ngăn ngại, không vì thù hận, ác tâm…”.

Rất nhiều kinh sách đề cập sự tu tâm, sửa tâm, giữ tâm an lành, trải rộng tình thương, xóa bỏ hận thù… Kinh Bản sinh (Jataka Nikaya) kể rất nhiều chuyện về sự nhẫn nhục, chịu đựng sự gây hại của kẻ ác gây cho Bồ tát (tiền thân của Đức Phật), cuối cùng Ngài đã cảm hóa được kẻ ác. Không oán hận, chỉ biểu lộ sự dũng cảm chịu đựng, tình thương, sự tha thứ… cuối cùng đã ngăn chận được cái xấu ác. Tạp A-hàm,Trung bộ kinh, Trưởng lão Tăng kệ đều có thuật chuyện Tôn giả Puna quyết định đi giảng pháp cho người dân Du-lãn-na (Sronaparata), vốn thô lỗ, ác độc, có thể hành hạ, thậm chí giết chết Tôn giả. Với tình thương, thái độ ôn òa, nhu thuận của Tôn giả, cuối cùng ngài đã cảm hóa được những người dân ấy, độ được một ngàn cư sĩ nam và nữ.

Tinh thần hòa bình, tình thương, sự xóa bỏ hận thù đã được Đức Phật dạy hàng đệ tử phải quan tâm thật nhiều đến việc nuôi dưỡng đạo đức trong đời sống và thực hành bốn đức hạnh cao cả từ - bi - hỷ - xả, bởi vì nếu đời sống mà không có đạo đức và vị tha, thì tâm hồn sẽ khó có thể trong sáng thanh tịnh được. Do vậy, việc giữ gìn giới luật hay thực hiện một đời sống đạo đức được xem là bước đi đầu tiên và cơ bản trong tâm hồn an lạc và cuộc sống hòa bình. Trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật đã diễn tả tính cách an nhiên tự tại của Ngài và khích lệ chư tăng nỗ lực tu tập tâm vô ngã chấp như sau: "Này các tỳ khiêu, nếu người khác mạ lỵ, phỉ báng, phiền nhiễu Như Lai, trong tâm Như Lai cũng không oán hận, phẫn nộ hay bất mãn…

Sử chép vào năm 585 trước Tây lịch, tại Vesali, Đức Phật đến chiến trường, nơi sắp nổ ra cuộc chiến giữa bộ tộc Sakya và bộ tộc Koliya về việc sử dụng dòng sông Rohini. Ngài đã giảng cho cả hai phe nghe về tai hại của chiến tranh, về sự quý giá của sinh mạng. Cuối cùng cả hai phe đều lui binh, 500 vương tử của mỗi bên xin xuất gia theo Đức Phật. Đức Thế Tôn cũng đã khéo léo, gián tiếp khuyên vua A-xà-thế từ bỏ ý định gây chiến tranh xâm chiếm xứ Bạt-kỳ.

Vua A-dục, khi mở mang đất nước, đã xâm chiếm lãnh thổ nhiều quốc gia, giết hại vô số quân dân. Đến khi tìm gặp Phật giáo, ông thâm nhập giáo lý, trở thành một tín đồ thuần thành, sống như một tăng sĩ, trị nước theo giáo lý của Đức Phật, ban bố tình thương, ngăn cấm bạo lực, sát sinh, kể cả việc sát sinh thú vật nếu không cần thiết. Trên một trụ đá có khắc pháp luân, nhà vua đã cho ghi: "Hạnh phúc của con người không phải được xây dựng trên hận thù mà trên tình thương. Không phải chiến tranh mà là hòa bình, tình thương và hy vọng”.

Ngày nay, chiến tranh vẫn tiếp tục xảy ra ở nhiều quốc gia, nhiều vùng lãnh thổ, thậm chí ngày càng khốc liệt. Chiến tranh hạt nhân với nguy cơ sát hại, tiêu diệt nhân loại vẫn là nguy cơ trước mắt. Mặt khác, các hiện tượng sa đọa về đạo đức, bạo lực, giết chóc, thù hận,… xảy ra ngày càng nhiều. Đây là lúc thông điệp Hòa bình, tình thương của Phật giáo nhất thiết phải được phổ biến và thực hiện.

Trước hết là bổn phận, nhiệm vụ của các giảng sư hoằng pháp. Muốn hoằng pháp có hiệu quả, vị giảng sư cần có phẩm chất tốt: Niềm tin Tam bảo; từ bi, nhẫn nhục, vô úy; có kiến thức sư phạm và kỹ năng diễn giảng. Kinh Pháp tập có nêu 6 điều về sự nhẫn nhục:

1/ Bị mắng chửi mà không sân hận; 2/ Bị hành hạ mà vẫn chịu đựng; 3/ Bị phiền não bức bách mà vẫn an tịnh; 4/ An tịnh trước mọi giận dữ; 5/ Không bao giờ tức giận, oán thù; 6/ Không lay động trước sự được mất, khen chê, tâng bốc, hạ thấp, vui khổ.

Sáu điều này phù hợp với tinh thần thông điệp Hòa bình của Đức Phật.

Các cư sĩ Phật tử, trong chừng mực có thể, cần học tập theo các vị giảng sư để giáo thuyết Phật pháp cho người thân, cho những người khác trong các dịp thuận tiện. Đối tượng hoằng pháp chủ yếu là các Phật tử và những người không phải Phật tử. Mục đích của hoằng pháp là góp phần xây dựng xã hội an bình, hòa bình, hạnh lạc chứ không nhằm lôi cuốn người khác theo Đạo Phật mà chỉ giúp người ta sống hiền thiện theo như giáo lý nhà Phật. Trong 6 nhiệm kỳ qua kể từ khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập và cả trong nhiệm kỳ VII này, Ban Hoằng pháp Trung ương đã tổ chức 8 khóa đào tạo giảng sư Cao cấp và Trung cấp cũng chỉ nhằm mục đích là các học viên trở thành giảng sư tốt, phổ biến hiệu quả giáo lý của Đức Phật, góp phần xây dựng hạnh phúc, an lành cho mọi người chứ không hề khuyến khích các học viên tìm cách nâng cao số lượng Phật tử.

Năm nay, Phật lịch 2559, ngày Phật đản lại về. Một lần nữa ý nghĩa thông điệp Hòa bình của Đức Bản sư Thích ca Mâu ni thật vô cùng cần thiết, tưởng như những lời vàng từ chính kim thân của Ngài đang âm vang, nhắc nhở, khích lệ những người con Phật hãy nỗ lực tu tập, điều ngự thân, khẩu, ý để hòa nhập với mọi người trong tình thương yêu. Ngưỡng cầu Tam bảo gia hộ cho Phật pháp được trường tồn, đất nước thịnh lạc, thế giới hòa bình, chúng sinh hạnh phúc.

Nam-mô Bản sư Thích-ca Mâu-ni Phật

 

Ý nghĩa của hạnh phúc

Người ta thường lầm tưởng cảm giác phấn chấn, hào hứng, có được từ việc sở hữu một món đồ mới này hay những giây phút khóai lạc, là hạnh phúc. Nhưng sau đó những ham muốn khác lại trỗi dậy. Khi màu da rám nắng đã phai, khi chiếc xe mới đã bị trầy thì họ lại nghĩ đến những cuộc mua sắm khác. Việc họ không ngừng kéo nhau đến các khu thương xá mua sắm khiến họ không thể khám phá ra suối nguồn của hạnh phúc thật sự.
 

y-nghia-hanh-phuc

 
Thiền sư Henepola Gunaratana, người Sri Lanka mà chúng ta đã biết qua hai bản dịch Chánh niệm thực tập thiền quán (Nguyễn Duy Nhiên biên dịch) và Hành trình đến chánh niệm( Diệu Liên Lý Thu Linh biên dịch). Vừa qua, thể theo lời yêu cầu của nhiều độc giả ở phương tây, thiền sư đã viết một tác phẩm ngắn Bát chánh đạo-Bước theo dấu chân Phật”( Eight mindfull steps to happiness- Walking The Buddha’s path) trình bày rất chi tiết từng bước con đường tu tập theo Phật để được hạnh phúc thảnh thơi và tự tại, đó là con đường của Bát chánh đạo, chúng tôi xin trích dịch để giới thiệu đến Quý độc giả VHPG.y-nghia-hanh-phuc

Những tiến bộ kỹ thuật ào ạt. Vật chất tăng trưởng. Sự căng thẳng. Cuộc sống và công việc chịu nhiều áp lực vì những đổi thay chóng mặt. Có phải đó là ở thế kỷ hai mươi mốt? Không, đó là thế kỷ thứ sáu trước công nguyên -khoảng thời gian của những cuộc chiến tranh tàn sát, kinh tế hỗn loạn và sự xáo trộn những nếp sống đã được hình thành, giống như ngày nay. Trong những điều kiện tương tự như của chúng ta, Đức Phật đã khám phá ra con đường đưa đến hạnh phúc dài lâu. Khám phá này của Ngài -một phương pháp rèn luyện tâm từng bước từng bước để đạt được sự tự tại – là điều quan trọng hôm nay cũng như ở bất cứ lúc nào.

Nhưng đem ứng dụng những khám phá của Đức Phật không phải là điều dễ dàng. Nó có thể kéo dài hàng năm. Yếu tố quan trọng nhất lúc bắt đầu là một ý chí mãnh liệt muốn thay đổi cuộc đời của bạn bằng cách chấp nhận những thói quen mới và tập nhìn thế giới một cách khác.

Mỗi bước trên con đường đến hạnh phúc của Đức Phật đòi hỏi ta phải thực hành chánh niệm cho đến khi nó trở thành một phần trong cuộc sống hàng ngày của ta. Chánh niệm là cách bạn tập cho mình trở nên ý thức về sự việc như chúng thực sự là. Với tâm luôn chánh niệm, bạn tiến lên qua tám bước đã được Đức Phật đặt ra hơn hai ngàn năm trăm năm trước -một sự rèn luyện nhẹ nhàng, từng bước để tận diệt khổ đau.

Ai là người muốn rèn luyện như thế? Câu trả lời là bất cứ ai đã quá mỏi mệt với những khổ đau trong đời. “Cuộc sống của tôi như thế này là tốt rồi. Tôi thấy đủ hạnh phúc rồi,” bạn có thể nghĩ như thế”. Bất cứ cuộc đời nào cũng có những phút giây tự tại, những phút giây của hỷ lạc. Nhưng về mặt khác thì sao, phần mà bạn không muốn nghĩ đến khi mọi thứ không diễn ra một cách tốt đẹp? Những thảm hoạ, sự nuối tiếc, thất vọng, những đau đớn thể xác, sự buồn chán, cô đơn, hối hận, những cảm giác ray rức khi nghĩ rằng có thể có một cái gì đó tốt hơn thế. Những điều này cũng xảy ra, có phải không? Hạnh phúc mong manh của chúng ta tùy thuộc vào sự việc xảy ra theo một cách nào đó. Nhưng cũng có một điều khác nữa: một thứ hạnh phúc không tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện. Đức Phật đã chỉ cho chúng ta con đường đi đến sự hạnh phúc toàn vẹn đó.

Nếu bạn sẵn lòng làm bất cứ điều gì để tìm được con đường thoát khỏi khổ đau -và điều đó có nghĩa là phải đối mặt với những cội rễ của tham, sân ngay tại đây, ngay giây phút này- thì bạn có thể đạt được ý nguyện. Ngay nếu như bạn chỉ là một người đọc tình cờ, thì những lời dạy này cũng có thể hữu ích cho bạn, nếu như bạn sẵn lòng thực hành những gì bạn thấy có ý nghĩa. Nếu bạn nhận thấy điều gì đó đúng, thì đừng bỏ qua. Hãy hành động!

Điều này nói thì dễ, nhưng thật ra không có gì khó hơn. Khi bạn tự nhủ rằng, “Tôi phải chuyển hóa để được hạnh phúc hơn” – không phải vì Đức Phật đã nói thế, mà vì trái tim bạn nhận ra được một chân lý thâm sâu- thì bạn phải dốc hết sức lực để chuyển đổi. Bạn cần có quyết tâm mạnh mẽ để chế ngự những thói quen xấu.

Những phần thưởng dành cho bạn là hạnh phúc – không chỉ cho hôm nay mà còn là mãi mãi.

Hãy bắt đầu. Chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách xét xem hạnh phúc là gì, tại sao nó quá khó nắm bắt, và ta phải làm thế nào để bắt đầu cuộc hành trình trên con đường tiến đến hạnh phúc của Đức Phật tiến đến hạnh phúc.

Ước muốn được hạnh phúc không xa lạ với chúng ta, nhưng nó vẫn luôn xa rời chúng ta. Được hạnh phúc có nghĩa là gì? Chúng ta thường tìm cách hưởng thụ dục lạc như ăn ngon hay giải trí, vì chúng đem lại hạnh phúc cho chúng ta. Nhưng có thứ hạnh phúc nào vượt lên trên những giây phút khóai lạc chóng qua đó không?

Nhiều người cố gắng xâu chuỗi lại thật nhiều những phút giây sung sướng, dễ chịu để họ có thể gọi đó là một cuộc sống hạnh phúc. Lại có người cảm nhận được sự giới hạn của dục lạc tầm thường, đã đi tìm một thứ hạnh phúc lâu dài hơn với những tiện nghi vật chất, đời sống gia đình yên ổn. Tuy nhiên các nguồn hạnh phúc đó cũng có những giới hạn của chúng. Khắp thế giới nhiều người sống trong sự đau khổ vì đói; những nhu cầu căn bản như được mặc, được ở của họ không được đáp ứng; họ phải chịu đựng mối đe dọa thường xuyên của bạo lực. Cũng dễ hiểu thôi khi những người này tin rằng sự thoải mái vật chất sẽ mang đến cho họ hạnh phúc. Ở Mỹ, sự phân chia của cải vật chất không đồng đều có thể khiến nhiều người sống trong nghèo khó, nhưng sự đói khổ hay thiếu thốn như ở các quốc gia khác trên thế giới thì ít thấy. Mức sống của phần lớn công dân Mỹ rất cao. Vì thế người dân ở các quốc gia khác thường nghĩ rằng người Mỹ phải là những người hạnh phúc nhất trên thế gian.

Nhưng nếu đến được Mỹ, họ sẽ nhìn thấy gì? Họ sẽ nhận thấy rằng người Mỹ luôn bận rộn -vội vã đến điểm hẹn, luôn nói chuyện trên di động, bận rộn mua sắm thực phẩm, áo quần, làm việc rất nhiều giờ trong văn phòng hay các xưởng thợ. Tại sao họ phải vội vã điên cuồng như thế?

Câu trả lời rất đơn giản. Đó là mặc dù người Mỹ dường như có tất cả, họ vẫn rất khổ đau. Và chính họ cũng cảm thấy hoang mang vì điều này. Tại sao khi đã có cuộc sống gia đình ấm êm, công việc đảm bảo, nhà cửa khang trang, đời sống nhiều chọn lựa, tiền bạc đầy đủ- mà họ vẫn không cảm thấy hạnh phúc? Họ nghĩ rằng chỉ có thiếu thốn những thứ trên mới khiến người ta đau khổ. Trái lại, được sở hữu, được xã hội công nhận, có tình thương của bạn bè, gia đình, và những sự thoải mái, thì ắt phải được hạnh phúc. Vậy thì tại sao, người Mỹ cũng như bao người khác ở khắp mọi nơi, thường cảm thấy đau khổ?

Hình như ngay chính những điều mà ta nghĩ sẽ mang hạnh phúc đến cho ta, thực ra lại là nguồn gốc của khổ đau. Tại sao? Vì chúng không trường tồn. Các mối liên hệ rồi sẽ tan vỡ, đầu tư có thể thất bại, người ta mất việc, con cái lớn lên rồi rời xa gia đình, và các cảm giác bằng lòng, thỏa mãn có được từ việc sở hữu những thứ vật chất xa hoa cũng như những giây phút khóai lạc, sung sướng, tốt lắm thì cũng chỉ là thoáng chốc. Vô thường có mặt ở khắp nơi quanh ta, đe doạ ngay chính những thứ mà ta nghĩ rằng ta cần để có được hạnh phúc.

Một điều nghịch lý là chúng ta càng có nhiều, thì ta càng có thể đau khổ nhiều hơn.

Ngày nay con người càng có nhiều đòi hỏi tinh tế hơn, điều đó đúng, nhưng dầu họ có bao nhiêu thứ vật chất của cải đẹp đẽ, đắt tiền, họ vẫn muốn hơn thế nữa. Và nền văn hóa tân tiến càng củng cố thêm lòng tham muốn này. Những gì bạn thật sự cần để được hạnh phúc, theo như các quảng cáo trên truyền hình hay trên những tấm biển quảng cáo nói, là phải có chiếc xe hơi mới sáng chói này, phải có chiếc máy vi tính siêu nhanh này, một chuyến nghĩ hè ở Hawaii đầy nắng. Và những thứ đó cũng có vẻ được như thế thật, nhưng một cách ngắn ngủi. Người ta thường lầm tưởng cảm giác phấn chấn, hào hứng, có được từ việc sở hữu một món đồ mới này hay những giây phút khóai lạc, là hạnh phúc. Nhưng sau đó những ham muốn khác lại trỗi dậy. Khi màu da rám nắng đã phai, khi chiếc xe mới đã bị trầy thì họ lại nghĩ đến những cuộc mua sắm khác. Việc họ không ngừng kéo nhau đến các khu thương xá mua sắm khiến họ không thể khám phá ra suối nguồn của hạnh phúc thật sự.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 31 - Thiền sư Henepola GunaratanaLý Thu Linh lược dịch

 

Ý nghĩa chữ tu

Là đệ tử của Đức Phật, chúng ta đi theo lộ trình của Phật đã đi và thể hiện trong cuộc sống những giáo pháp mà Ngài truyền trao cho chúng ta. 

Tuy nhiên, trong đạo Phật, khi triển khai lời Phật dạy, mỗi vị Tổ sư đều có phương pháp thực tập riêng biệt, khác nhau, tùy theo hạnh nguyện và nhân duyên của từng vị, nhưng tất cả các ngài đều đạt được sở đắc, sở ngộ. Vì có sự khác biệt trong việc thể nghiệm giáo pháp mà các ngài đã phân chia ra nhiều pháp môn tu khác nhau. Từ đó, nói đến tu là người ta nghĩ đến tu pháp môn nào; vì đạo Phật có đến tám mươi bốn ngàn pháp môn tu để đối trị tám mươi bốn ngàn phiền não trần lao của chúng sanh, làm cho chúng sanh được an vui giải thoát và đó chính là con đường của Đức Phật vạch ra. Nếu đi lệch ra khỏi con đường này là đi vào tà đạo, tức chúng ta tu, nhưng không giải thoát.

bizmacGallery_full_26042012_110440 

Khai đạo giới tử tại đại giới đàn Hành Trụ, chùa Huê Nghiêm - Ảnh: Bảo Toàn

Thực tế cho thấy có những người chưa tu thì hiền lành, dễ thương; nhưng tu một lúc trở thành khó tánh, khó chịu, không ai chấp nhận được, là đã đi lệch đường, là tu theo tà đạo. Thật vậy, nếu tu theo Phật đạo, càng tu thì càng giải thoát; trong khi đi lệch hướng thì càng tu càng bị ràng buộc. Trên bước đường tu, đi đúng hướng là việc rất cần thiết đối với tất cả chúng ta.

Trong các pháp môn tu, Phật giáo chúng ta chọn pháp chính yếu là tu Thiền và tu niệm Phật, tức tu Tịnh độ. Hai pháp tu này gần như mọi người đều áp dụng; vì niệm Phật và Thiền đều đi vào con đường giải thoát. Về Thiền đòi hỏi những người phải đắc Thiền mới dạy được Thiền; nhưng chưa đắc Thiền mà dạy Thiền thì không kiểm soát được thế giới nội tâm của Phật tử, họ đi lạc làm sao cứu được.

Thật vậy, Thiền phải dùng tâm truyền, tức người đắc đạo truyền cho người có khả năng đắc đạo mà thôi. Trong lịch sử, khi Phật thuyết kinh Pháp hoa ở Linh Thứu sơn, Ngài đưa cành hoa sen lên và ngài Ca Diếp mỉm cười, gọi là niêm hoa vi tiếu; nghĩa là Đức Phật chỉ truyền pháp cho ngài Ca Diếp, tức tâm truyền tâm, hai thầy trò hiểu nhau mà thôi.

Giáo tông là ngữ ngôn văn tự do Pháp sư thuyết giảng; cho nên con đường giáo tông được mở rộng hơn. Trong khi con đường Thiền là giáo ngoại biệt truyền, nên Phật truyền pháp cho Ca Diếp và chỉ một mình Ca Diếp biết thôi. Đó là điểm đặc sắc tiêu biểu của việc học Thiền.

Vì vậy, chúng ta thấy Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma đi khắp đất nước Ấn Độ, nhưng không tìm thấy người có khả năng để ngài truyền pháp. Ngài mới lặn lội sang tận Trung Quốc để tìm, nhưng suốt cả một đời, ngài chỉ tìm được một người tiếp nhận được pháp là Huệ Khả. Có thể khẳng định rằng pháp tu Thiền không đơn giản, vì phải hiểu ngoài giáo lý, phải đắc đạo, phải ngộ đạo. Theo tôi, pháp tu này khó vô cùng, ít có người đạt được.

Thiền có nhiều phương cách thực hành khác nhau, cần xem phương cách nào thích hợp với mình để thực tập. Một là Thiền Ấn Độ hay Thiền ngoại đạo có đồng thời hay trước Phật, nhưng pháp này của ngoại đạo; vì thế, nếu áp dụng thì phải cân nhắc. Ngày nay, phái này cũng truyền sang Việt Nam gọi là luyện Yoga. Từ thời Phật tại thế, việc luyện Yoga mang tính cách tâm linh, nhưng ngày nay mang tính thể thao, thực tập pháp này để có sức khỏe tốt, nếu được hướng dẫn đúng pháp.

Hai là Thiền Tứ niệm xứ là pháp căn bản mà Đức Phật dạy các vị Tỳ-kheo khi Ngài còn tại thế. Tất cả mọi người bước chân vào cửa đạo phải thực tập pháp này để mở ra con đường giải thoát cho chính mình. Pháp Thiền Tứ niệm xứ là pháp tu đúng đắn, vì đó là cái gốc của Phật giáo giúp đệ tử Phật vào cánh cửa giải thoát là Không, vô tác, vô nguyện. Phật giáo Nam tông đã triển khai sâu rộng pháp này đúng với Chánh pháp.

Ba là Thiền Đông độ phát triển mạnh ở Trung Quốc (Đông độ chỉ cho Trung Quốc) từ thời Đạt Ma Tổ sư, mà ngày nay Phật giáo Bắc truyền ở Việt Nam áp dụng gọi là Thiền Tổ sư.

Bốn là khi Thiền Đông độ truyền sang Nhật Bản thì đã mở rộng theo chiều hướng khác, thích ứng với tinh thần của xã hội Nhật, nghĩa là Thiền đi vào cuộc đời để tất cả mọi ngành mọi giới của đất nước này đều thực tập được. Pháp Thiền này thực sự mang tính thư giãn nhiều hơn, ngày nay chúng ta có thể áp dụng, tức là làm sao cho đầu óc chúng ta được nhẹ nhàng, vơi bớt ưu phiền trong cuộc sống.

Có thể gọi là Thiền hay tĩnh tâm giúp cho mọi người điều hòa thể xác khỏe mạnh và tinh thần tốt đẹp; đó là Thiền mang tính cách xã hội. Nhờ ảnh hưởng của Thiền, mới xuất hiện ở Nhật Bản những bài thơ và những áng văn trác tuyệt. Giới võ sĩ đạo triển khai kiếm đạo, cung đạo, hiệp khí đạo, nhu đạo nhờ hấp thu tinh ba của Thiền là sức tập trung cao để đạt đến đỉnh cao trong lãnh vực chuyên môn.

Chẳng hạn võ sĩ muốn bắn trúng một điểm xa phải tập trung cao vào tiêu điểm xa nhỏ nhất, nhờ vậy, mục tiêu di động thế nào, họ đều thấy rõ, nên bách phát bách trúng. Hoặc nhờ tập trung cao mà võ sĩ thấu biết được đối thủ nghĩ gì, tính gì, nên có cách phá hỏng được ngón đòn của đối thủ ngay từ trong tâm trí. Về nghệ thuật, có rất nhiều bức tranh, nhiều tác phẩm điêu khắc nổi tiếng của các thiền sư Nhật sáng tạo. Như vậy, từ Thiền Tổ sư, Thiền Tứ niệm xứ hướng đến con đường thoát tục, người Nhật đã khai thác, đưa Thiền vào sinh hoạt xã hội hàng ngày. Ngày nay, cả thế giới ngưỡng mộ Thiền, làm sao đem Thiền vào cuộc sống, giúp con người khỏe mạnh, tâm lý bình ổn và có cái nhìn sáng suốt hơn. Đó là pháp đúng đắn mà người tu cần thực tập.

Về pháp môn Tịnh độ, nhiều người hiểu Tịnh độ một cách đơn giản là thế giới Cực lạc ở phương Tây của Đức Phật Di Đà và mong rằng sau khi từ giã cõi đời này, sẽ được sanh về thế giới đó.

Theo tôi, nếu nghĩ pháp môn Tịnh độ chỉ hướng về thế giới Cực lạc ở phương Tây mà tu tập, chúng ta sẽ bị hạn chế nhiều mặt, cần phải cân nhắc. Chúng ta hiểu Tịnh độ là gì. Tịnh độ là trong sạch, hay muốn nói tâm trong sạch, thân trong sạch và quốc độ trong sạch. Vì vậy, tâm tịnh thì độ tịnh, tức tâm chúng ta thanh tịnh, hoàn cảnh tự tốt, không phải về Tây phương Cực lạc cách đây mười muôn ức thế giới mới có Tịnh độ; còn nơi khác không có Tịnh độ.

chp20 

Đạo tràng tu Tịnh độ – Ảnh: Chùa Hoằng Pháp

Đức Phật dạy chúng ta rằng trong khắp mười phương thế giới, ở đâu cũng có Phật và ở nơi nào có Phật, chỗ đó có Tịnh độ, hay chỗ có tâm trong sạch, chỗ đó có Tịnh độ. Vì tất cả các Đức Phật thân tâm đều thanh tịnh nên quốc độ của các Ngài thanh tịnh; vì thế, ở đâu cũng có Tịnh độ.

Và trở qua kinh Duy Ma, ngài Xá Lợi Phất nghĩ rằng mười phương Phật thanh tịnh, chẳng lẽ Đức Phật Thích Ca không thanh tịnh hay sao mà thế giới của Ngài là Ta bà đầy hầm hố gai chông. Đức Phật liền ấn chân xuống đất thì Tịnh độ hiện ra. Tịnh độ hiện ra là Thường Tịch Quang Tịnh độ, là thế giới Thiền định của Phật mà chúng ta không thấy được, không vào được, nên nói là không có.

Ý này được kinh diễn tả rằng tất cả chúng sanh ví như người mù không thấy ánh sáng, nhưng thực sự lúc nào ánh sáng cũng có. Tại sao chúng sanh mù. Mù mắt thịt do mắt bị kéo mây, nhưng mù tâm thì Phật nói do mây ngũ uẩn ngăn che chúng ta không thấy. Chúng ta từ từ lột bỏ mây ngũ uẩn, ánh sáng sẽ hiện ra. Vì bị đám mây ngũ uẩn che khuất, cho nên chúng ta ở thế giới thanh tịnh của Phật Thích Ca, mà chúng ta tự khởi sự ô nhiễm mới thấy khổ.

Đi tu rất sướng đối với người biết tu và tu có kết quả. Tôi nói thực rằng không gì sung sướng hơn tu. Người tu không có quyền, không có tiền, nhưng sung sướng nhất. Tuy nhiên, phải nhận ra chân thật pháp và thực tập đúng đắn mới được sung sướng.

Điều sung sướng nhất là người tu không bị phiền não thế tục quấy rầy, tức là không buồn, không giận, không lo, không sợ. Câu chuyện Đức Phật hướng dẫn các vị Tỳ-kheo đi du hóa, gặp một người chủ trang trại mất bò, chạy hớt hơ hớt hải để tìm bò trông thực khổ sở thê thảm. Đối trước cảnh khổ đó, Đức Phật mới nói rằng các Thầy Tỳ-kheo sung sướng vì không có con bò để mất, hay không có gì để mất. Riêng tôi, trên bước đường tu, tôi cảm thấy sung sướng vì không bị vướng mắc với ba việc là ăn, mặc, ở như tất cả những người đời luôn luôn bị ba thứ này làm khổ. Tu hành, làm sao chúng ta tự rèn luyện không bị lệ thuộc với ba việc này.

Ăn ngủ nhiều để sanh bệnh chỉ chuốc lấy khổ. Việc tu của chúng ta làm sao hạn chế được ăn ngủ. Tôi sang Nhật tu Thiền, tới Thiền đường, người ta giao cho tôi một căn phòng trống trơn, không có chăn, mền, gối gì cả, rất là lạnh. Tôi thức tỉnh, nhận ra rằng nhờ lạnh không ngủ được, phải thức mới thực tập Thiền. Làm sao trời lạnh mà không cảm thấy lạnh, không thấy đói, phải thực tập cho được điều này.

Đi tu, tập bớt ăn nhiều chừng nào thì đạo giải thoát gần thêm chừng đó. Suốt ngày không ăn cũng được, vì tôi đã tập bớt ăn, nhịn lần. Ăn vừa đủ, hay ăn thiếu một chút càng tốt, là ý Phật dạy tam thường bất túc của người tu. Không nên ăn nhiều, ngủ say. Về đây tu, chúng ta tập bớt ăn uống, nên bớt phóng uế; cho đến ngày nào các Phật tử chỉ ăn một vắt cơm là tu có kết quả tốt. Tôi đã thực tập pháp tu này ở Nhật, một ngày chỉ ăn một vắt cơm với một trái xí muội, rất ngon mà không khát nước, không ra mồ hôi, khỏi đi tiểu. Tuy nhiên, phải có quá trình thực tập, đừng ép, nguy hiểm. Muốn có cơ thể khỏe mạnh, phải dùng thức ăn thích hợp và hạn chế những thực phẩm có độc tố; ăn uống đơn giản để có thì giờ sống với đạo.

Tu là rèn luyện cơ thể có sức chịu đựng, bảo đảm không bệnh hoạn. Và tiếp theo, chúng ta thực tập những pháp môn mà Đức Phật chỉ dạy để phá một phần phiền não trần lao, để bước lần lên đường giải thoát. Như vậy là thân không bệnh, tâm không phiền não. Mong rằng tất cả quý Phật tử sẽ thực sự sống trọn vẹn trong sự an lạc tại đạo tràng này và mang sự an lạc ấy về cho gia đình, giữ mãi sự an lạc ấy trong từng phút giây của cuộc sống.

HT.Thích Trí Quảng
 
Trang 1 / 2


Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module

Hình ảnh

link s6
link s7

Thống kê lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterKhách online89
mod_vvisit_counterHôm qua142
mod_vvisit_counterTổng khách online384673

Your IP: 54.81.78.135
ngày 28 - Tháng 5 - 2018