Chua Cam Lo

Phật học chuyên sâu

Chuỗi hạt và tội làm thân Phật chảy máu

Là một Thích Tử Như Lai con thường dạy Phật Tử phải thường xuyên niệm Phật. Một hôm có một Phật tử mời con mua xâu chuỗi hạt có hình Bổn Sư, đeo vào tay để được may mắn. Nhìn vòng chuỗi con không khỏi bùi ngùi xót xa. Chuỗi hạt chính là một phương tiện trong muôn ngàn phương tiện khác. Trong Phật giáo có vô số phương tiện và tràng hạt hay chuổi đeo tay cũng được xem là hình thức pháp khí hay vật thể đều là những phương tiện. Tuy nhiên, không phải vô cớ mà có tràng hạt hay vòng tay tràng hạt, mỗi một hình thức của một vật thể đều có một ý nghĩa biểu trưng đặc biệt của nó.
vong tay thach anh vang2

Và con cũng biết phải nương vào phương tiện để đạt cứu cánh niếp bàn, nghĩa là nhờ cần câu mới bắt được cá, nhờ nạng ná mới bắn được chim. Ngôn ngữ của nhà Thiền chính là  “kiến sắc minh tâm”. Nghĩa là nương sự để hiển lý, sự lý phải viên dung. Đó là cái chính yếu mà người con Phật luôn hướng đến. Con thường hay lang thang mạng xã hội (internet) để kiếm tìm bài vở nghiên cứu, học tập và bắt gặp vô số nhưng hình ảnh tràng hạt hay chuỗi hạt đeo tay bán đầy trên mạng xã hội. Có một hình ảnh mà làm con băn khoăn và trăn trở. Đó là hình chuổi tay rao bán trên mạng có hình Đức Phật bị khoan xuyên từ đỉnh đầu xâu vào tràng hạt như một món trang sức. Phải chăng, chúng ta vô tình tạo tội “ Làm Thân Phật chảy máu”.
f039df11d894616edb6cfc9ba3895264

*Con Xin được kể lại 1 câu chuyện : 
Khoảng giữa thế kỷ thứ VIII sau Phật Niết-bàn, tại thành La Duyệt, có một vị sư pháp danh là Bà-Tu-Bàn-Đầu từng đến học đạo với Tổ Xà-Dạ-Đa (Jayata). Ông Bà-Tu-Bàn-Đầu này tu hành tinh tấn suốt ngày đêm không nằm và sáu thời lễ bái,mặc y vá, ăn một bữa,lòng đạm bạc không mong cầu. Đồ chúng nhơn đó rất kính trọng ông
Một hôm, ông thưa với Tổ Xà Dạ Đa.
- Tôi nhớ bảy đời về trước ,vì mộ đạo nên thờ trí giả Nguyệt-Tịnh làm thầy. Thầy Nguyệt-Tịnh có lần dạy tôi: "Không bao lâu nữa ngươi sẽ chứng quả Tư-Đà-Hàm, nên siêng năng tinh tiến. Phàm tu hành như trèo lên cao, phải cố gắng tiến lần lên, không cho sụt xuống. Nếu lỡ có sụt, muốn trèo lên lại càng khó". 
 
Lúc đó, tôi đã tám mươi tuổi, nương gậy mới có thể đi được.Khi ấy, gặp Bồ-Tát Đại-Quang-Minh ra đời, tôi muốn đến đảnh lễ Ngài, bèn đi đến tịnh-xá, lễ bái xong trở về.
Chợt gặp thầy Nguyệt-Tịnh quở trách tôi: "Dốt quá, tại sao ông lại khinh cha trọng con ? Hôm trước,ta thấy ông sắp được chứng quả Tư-Đà-Hàm, hôm nay đã mất."
Khi ấy, tôi tự cho là không có lỗi, nên không phục những lời quở trách ấy. Tôi cầu xin thầy Nguyệt-Tịnh chỉ lỗi cho tôi
Thầy Nguyệt-Tịnh dạy: "Vừa rồi, ngươi đến đảnh lễ Bồ-Tát Đại-Quang tại sao lại dựng cây gậy vào mặt Phật vẽ trên vách ? Ngươi do lỗi nầy nênđã mất quả vị". 
 Tôi nhớ kỹ lại, thật đúng như lời thầy Nguyệt-Tịnh quở. Từ đó về sau, phàm có nghe lời quở trách nào của thầy, chẳng dám không tin.
Chỉ là dựa cây gậy vào hình Phật trên tường còn bị mất Quả vị sắp chứng, huống chi làm những điều vô lễ khác với hình Phật, quả báo sẽ đến mức nào ?

Ngày nay, với thời đại thông tin đại chúng giúp chúng ta tiếp cận công nghệ số một cách mau lẹ. Công nghệ số bây giờ đã phát triển không ngừng. Bao nhiêu cuộc giao dịch mua bán chỉ cần một click nhẹ chuột là có thể mua được hàng ngàn món đồ mà không cần phải ra tiệm tạp hóa hay siêu thị. Hàng Phật tử tại gia cũng có không ít người dùng tượng Phật như một món đồ trang sức, ví như làm dây chuyền, đeo cổ tay, hoặc dùng tượng Phật để trang trí, hoặc đeo tượng Phật lên người với mong muốn được Phật phù hộ độ trì cho được bình an. Tệ hơn, có nhiều ý tưởng điên rồ đến nổi làm ra hình đầu tượng Phật bổn sư, rồi  dùng mũi khoan khoan từ đỉnh đầu(nhục kế) đến cuống họng, xâu vào tràng chuỗi đeo tay để cầu xin may mắn. Còn vô số hình ảnh như vậy đầy dẫy trên mạng xã hội. Vậy, những người Phật tử chúng ta đeo những chuỗi tay đó có phải đang gián tiếp phạm tội làm thân Phật chảy máu hay không ?  

Thân thể con người vốn bất tịnh, vậy nên vốn dĩ đã không nên mang Thánh Tượng bên mình, nhưng có mấy ai hiểu được những việc làm đó là bất kính với Phật. Huống là nghĩ ra nhưng chiêu trò hình mẫu mới để đem bán thánh tượng ở chợ trời mà không hề biết cái hậu quả phía đằng sau đó.
Đã là đệ tử của Như Lai, đứng trong hàng ngũ Xuất gia hay Tại gia thì nhất nhất phải tôn kính Phật, Bồ Tát thì mới dần dần tu dưỡng được những đức tính của Phật nơi tâm của chính mình. Ngược lại, việc bất kính với Phật, Bồ Tát thì quả báo lại rất nặng nề. Đó là luật Nhân quả kể cả bậc xuất gia cũng không thể nào tránh khỏi. Tượng Phật là hình tướng tôn nghiêm chỉ để cho con người thờ cúng, lễ bái tỏ lòng tôn kính của mình đối với Phật, Bồ Tát chứ tuyệt đối không được làm trang sức hay trang trí, lại còn đục khoét thân Phật, Bồ Tát đó là một hành động thiếu hiểu biết và gieo nhân không tốt, hậu quả sẽ rất xấu xa.
  • Một câu chuyện khác
Một em gái đi chùa lễ Phật, lễ xong em vừa ra đến sân chùa, gặp một quân nhân đứng ngắm cảnh. Thấy em, quân nhân liền hỏi:
- Em đi đâu thế ?
Bé gái đáp: 
- Em đi chùa lễ Phật
- Tượng Phật bằng gỗ bằng xi măng, em lễ cái gì? 
Bé gái hỏi lại:
- Ở doanh trại anh mỗi sáng có chào cờ không? 
-Sáng nào cũng chào cờ
- Cờ làm bằng vải màu, tại sao phải nghiêm trang chào?
Quân nhân đáp:
- Chào tinh thần Tổ quốc được tượng trưng qua lá cờ, chứ không phải chào vải màu.
Bé gái nói:
- Cũng thế, em lạy tinh thần từ bi giác ngộ của Phật được tượng trưng qua hình tượng chứ không phải lạy gỗ lạy xi măng”.
Vị quân nhân đành thôi.
 
Nhiều người cho rằng Phật chỉ là xi măng sắt đá, không nên chấp vào, đó là do người đó chưa hiểu rõ nhân quả. Phật là bậc Thánh nhân, Ngài không chấp không giận, cũng chẳng bao giờ đi trừng trị kẻ mạo phạm tượng của Ngài, nhưng luật Nhân quả thì khác, luật Nhân quả cực kì nghiêm khắc, không lệ thuộc ý muốn của chúng ta, và cũng không theo sự điều khiển của Phật. Vì thế nên rất nhiều người đã hứng chịu những quả báo thê thảm vì phỉ báng hình Phật, tượng Phật . Trong kinh Phật dạy  “Tội ngũ nghịch” là:
- Thứ nhất là giết cha.
- Thứ hai là giết mẹ.
- Thứ ba là giết A La Hán `
- Thứ tư là làm thân Phật chảy máu.
- Thứ năm là phá hòa hợp tăng
Thời Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, Ngài cũng làm nên tấm gương cho chúng ta thấy. Đề Bà Đạt Đa hại Phật, làm thân Phật chảy máu. Chúng ta ngày nay ác ý phỉ báng Phật, hủy hoại hình tượng của Phật cũng có nghĩa là làm thân Phật chảy máu. Chúng ta dùng hình ảnh Phật để mua bán, đục khoét hình Phật, đây cũng là làm thân Phật chảy máu. Điều này mọi người đều biết, nhưng ý nghĩa sâu hơn thì mọi người không biết. Chúng ta thường hay đang tạo tội mà không biết. Người tạo loại tội nghiệp này rất nhiều, nhưng đều nghĩ là mình không có tạo tội ngũ nghịch, và  hoàn toàn không biết đây chính là tội ngũ nghịch mà đức Như Lai đã nói. Đây chỉ là nhìn nhận chính kiến của riêng bản thân con, còn việc ai đúng ai sai xin Thiện tri thức có sở kiến đúng đẳn chỉ dạy, Con chỉ mong lời con nói chỉ là một hạt cát hiểu biết trong đại sa mạc rộng lớn. Cúi mong thiện tri thức xem đây chỉ là một góp ý nhỏ để cùng chèo lái con thuyền chánh pháp mênh mông. - " Phàm làm việc gì phải nghĩ đến hậu quả của nó"
 
 

Thơ: Tình Mầu Nhiệm - Tuệ Nguyên

TÌNH MẦU NHIỆM

                                       Thơ : Tuệ Nguyên- Thích Thái Hòa.

Chân trời nào đây anh

Em đứng đợi.

Tình yêu nào để mở lối đi lên

Cho hôm nay và cho cả ngày mai,

Cho áo trắng em cài hoa diệu vợi!

Chân trời nào có lần anh ca ngợi

Trời quá cao, đất im lặng không lời,

         Tình đi mãi giữa tháng ngày không đợi

Tình anh yêu như sương đọng ven trời.

   Với đất trời có lần anh ca ngợi

       Trời mênh mông mà đất cũng mênh mông,

           Không quá khứ

           Vị lai,

             Và hiện tại.

   Em cứ đi và đi mãi vô cùng!

Tình yêu nào cũng trăng ngàn gió lộng

Em cứ yêu như ngày ấy anh yêu,

Em cứ yêu nhưng em đừng bắt đuổi

Vì bắt đuổi như gió đuổi mây chiều!

         Em cứ yêu nhưng em đừng bắt đuổi

       Hễ bắt đuổi em sẽ khổ đau nhiều,

             Em đau khổ bởi vì em vụng dại

             Đời ngu ngơ em bắt bóng tình yêu!

Đất và trời là tình yêu kỳ diệu

Từ ngàn xưa và mãi đến ngàn sau,

Em khôn lớn giữa đất trời chung thủy,

Phép yêu này em đã nhận ra chưa?

             Trời đất yêu em, yêu từ vô thỉ

             Mở mắt ra em đã có đất trời,

Em đừng hỏi chân trời nào nữa nhé

           Hãy buông tay, em hiện hữu ngàn nơi!

Em đừng hỏi chân trời nào nữa nhé

Em cứ yêu như ngày ấy anh yêu,

Em cứ yêu nhưng em đừng chiếm hữu

   Vì tình yêu

Mầu nhiệm lắm em ơi!

                         Trích tập thơ ‘’Sương trắng ven trời’’.

 

Góc Khuyết

Góc Khuyết

Xin kể một câu chuyện về một vòng tròn khuyết. Có một vòng tròn hắn ta bị thiếu mất một góc nên rất buồn và quyết định hành trình đi tìm cái góc còn thiếu của mình. Hắn vui vẽ hát vang và bắt đầu cuộc hành trình của mình. Trên đường đi hắn ta gặp rất nhiều gian nan và trắc trở, nào là gió tuyết mưa sa, nào là trèo đèo lội suối, có khi lại bị vùi dập dưới lớp tuyết lạnh cóng nhưng khi ánh nắng mặt trời lên, băng tuyết tan chảy, hắn ta lại tiếp tục lên đường. vì thiếu mất một góc nên hắn lăn rất chậm, nhờ vậy mà có thể nói chuyện cùng bác giun, có thể thưởng thức hương thơm của hoa dại bên đường và vui đùa cùng chú bướm xinh đẹp. Trải qua muôn vàn khó khăn hắn ta gặp nhiều cái góc nhưng lại thất vọng tràn trề vì không cái nào phù hợp với mình. Vào một ngày kia, cuối cùng hắn ta gặp cái góc còn thiếu của mình, hắn reo hò vui sướng, giờ đây hắn  đã trở thành một vòng tròn hoàn hảo. Trên đường về, hắn lăn thật nhanh vì vậy không thể nó chuyện cùng bác giun, không thể thưởng thức hương thơm các loài hoa dại bên đường nữa và đặc biệt khi hắn cất giọng hát lên thì chỉ là những tiếng tắc ngẽn khàn khàn. Bất giác hắn chợt hiểu ra, hắn dừng lại và nhẹ nhàng nhã cái góc ra, ung dung đi tiếp và hát những bài hát mà hắn thích…phải chăng mỗi chúng ta là cái vòng tròn ấy? Chúng ta luôn không bằng lòng với những gì mình có lại ước ao những thứ không phải của ta, không thuộc về ta, luôn đòi hỏi một sự hoàn hảo. Đôi  khi ta thấy tự ti về những khuyết điểm của mình, ghét bỏ nó để rồi cuộc sống của ta tràn đầy những mặc cảm, so đo, điều đó có vui chăng? Có thể ta không đẹp nhưng ta có một nụ cười ấm áp có thể giúp người  khác xóa tan những căng thẳng, sầu lo. Ta không có một trí tuệ siêu phàm nhưng ta có một con tim nhân hậu để ôm trọn những tâm hồn đơn côi lạnh giá. Ta không có nhiều tiền của nhưng sẳn lòng san sẽ những gì mình có. Ta không có bất cứ một tài năng nào nhưng ta có thể ca ngợi và hoan hỷ với tài năng của người khác.

 Đừng ngưỡng mộ những gì người khác có mà hãy nhìn lại những gì mình đang có, ta sẽ nhận ra rằng những thứ đó sẽ quý giá hơn nhiều những gì mà ta không có. Dù đi khắp năm châu bốn biển cũng không thể tìm thấy được một con người hoàn hảo. Chính những khuyết điểm ấy sẽ giúp ta nhận ra được giá trị của bản thân và nó còn dạy cho ta những bài học bổ ich. Khi trong mình còn có một góc khuyết ta không thể kiêu căng ngạo mạn, nó nhắc nhỡ chúng ta biết khiêm tốn và biết yêu thương chia sẽ với mọi người hơn. Giúp ta biết ngưỡng mộ và khen ngợi những điều mà ta mong muốn. và hãy thử nghĩ xem nếu đã là một người có nhiều ưu điểm  ta sẽ tự cao  ngã mạn và bằng lòng những gì mình có, khi ấy liệu ta còn có khát khao, những ước vọng để vươn đến những điều tốt đẹp hơn không?

Và có đôi khi chính những khuyết điểm ấy lại tạo nên điều kỳ diệu nếu chúng ta biết tận dụng chúng. Giống như câu chuyện về cái bình nứt, nhờ những vết nứt ấy mà có được những luống hoa tươi đẹp, vậy tại sao chúng ta không biến những khuyết điểm của mình trở nên hữu dụng.

Góc khuyết tuy  không đẹp nhưng nó là một phần của mình hãy chấp nhận và đối xử tốt với nó thì cuộc sống sẽ nhẹ nhàng và có nhiều niềm vui hơn.

Có  ai đó đã nói rằng: “ Dưới ánh nắng mặt trời mỗi người đều có giá trị như nhau. Hãy làm cho mình được tỏa sáng, đừng uổng phí tài năng”

 Đó chính là điều mà chúng ta cần phải biết. Trước tiên chúng ta cần phải biết tôn trọng giá trị của bản thân. Dù ta có một hay nhiều góc khuyết đi nữa thì hãy nhìn lại xem ta vẫn còn có những ưu điểm khác. Đừng nghĩa rằng ta là một kẻ bất tài chẳng làm được gì, chính những tư tưởng ấy sẽ đè bẹp ý chí của ta, làm cho ta buông xuôi trong cuộc sống. biết rằng bằng lòng những gì mình đang có để không phải so đo, mặc cảm nhưng cũng không nên tự mãn để tiếp tục phấn đấu. như ai đó đã từng nói: “ Nhìn xuống để sống, nhìn lên để phấn đấu”  hãy biến mình từ hạt cát bé nhỏ trở thành hạt ngọc trai vô giá. Điều cuối cùng muốn nhắn gửi đến mọi người là “ Đủ là còn thiếu một ít”.

Chiếu Tịnh

 

Bản chất thời gian với ý nghĩa Giải thoát của Đạo Phật

 

image
Thời gian có lẽ là một phạm trù gây nên những băn khoăn nhiều nhất cho triết học, khoa học, tôn giáo và con người nói chung bởi nó là điểm trụ của mọi hình thái tồn vong vũ trụ.

Thật vậy, mọi vật sinh khởi trong thời gian, và cũng hủy diệt trong thời gian, hữu sinh tất hữu diệt là một quy luật chẳng những đúng cho vạn vật, mà còn cho tất thảy mọi chúng sinh. Sinh, lão, bệnh, tử là một tiến trình không thể nghịch đảo trong khuôn viên khắc nghiệt của thời gian tuyến tính. Thời gian vừa là người sáng tạo vừa là kẻ hủy diệt; vậy nên phải đánh giá như thế nào về vai trò của thời gian trong sự tồn tại của đời sống con người? Phải đánh giá như thế nào về cái thời gian một đi không trở lại đã khiến bao người luyến tiếc khôn nguôi về những hoài niệm vàng son quá khứ. Có lẽ cảm xúc trên đã khiến nhà văn Pháp Marcel Prous viết nên cuốn tiểu thuyết triết học nổi tiếng Đi tìm thời gian đã mất (A la recherche du temps perdu). Trong chuyện, ông đã mê hoặc độc giả bằng hình ảnh của những nàng trinh nữ trong trắng và những chiếc bánh ma - đơ - len ngon lành từ trong quá khứ ngọt ngào của ông. Thế nhưng cũng chính cái thời gian mà không ít người trong chúng ta xem là quý báu ấy, đối với W.Faulkner, Nhà văn Mỹ được giải thưởng Nobel, nó chẳng qua chỉ là thứ sản phẩm máy móc của chiếc đồng hồ mà ông từng ngấm ngầm nguyền rủa mà thôi!

Khái niệm về sự trường cửu của cỗ máy thời gian (Kalachakra) có thể đã được nhà Phật nhấn mạnh để giáo hóa về bản tính vô thường của thế giới. Đại thể: Trong thế giới hiện tượng của chúng ta, thời gian là mạnh nhất, bởi vạn vật được tạo nên bằng sự kết hợp với nhau từ những thành phần riêng lẻ, nên sự tan rã của chúng trong dòng chảy thời gian là không sao tránh khỏi; sự sống kết thúc trong tuổi già bằng cái chết; các dinh thự đền đài dù nguy nga tráng lệ đến đâu cũng sẽ hư mục và sụp đổ; các thiên hà, các ngôi sao, các hành tinh được hình thành phát triển rồi tự hủy hoại. Thậm chí ngay cả những con người đạo hạnh khả kính đã đạt tới ngôi vị thánh ở những cõi trời tôn giáo; nhưng rồi họ cũng bị thời gian làm cho mọi sự ở đó trở nên nhàm chán, tạo thành hạt giống bất mãn, đã là nguyên nhân kéo họ ra khỏi thiên đường; để rồi lại rơi xuống vòng sinh tử thấp hèn. Vậy là cả thánh lẫn phàm đều chịu khuất phục trước thời gian, một khi còn nằm trong dòng chảy của nó. Từ những quan niệm và cảm xúc trái ngược nhau của con người về thời gian đã cho thấy ý nghĩa triết học của nó đối với đời sống con người thật vô cùng quan thiết. Bởi vậy mà chúng tôi rất tâm đắc đối với những luận điểm của thiền sư Đạo Nguyên (Dozen, 1200 – 1253) đã được nêu lên trong thiên khảo luận nổi tiếng của ông về thời gian với tên gọi Thực thể thời gian (ÊtreTemps), đại thể như sau:

          - Khảo cứu thời gian là khảo cứu chân lý

          - Khảo cứu chân lý là khảo cứu đời người.

          - Khảo cứu đời người là khảo cứu thân phận “cái tôi” của nó.

          - Khảo cứu “cái tôi” là khảo cứu sự tồn tại của nó trong thời gian, và qua đó tìm ra ý nghĩa giải thoát tối hậu cho nó.

Có thể vì những ý nghĩa hiện sinh nhân bản như vậy, nên từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây đã có biết bao nhà tư tưởng ra sức tìm tòi, những mong khám phá bản chất đích thực của thời gian, để phục vụ cho mục đích trên.

Quả thật, thời gian là một thực thể khó nắm bắt, khó định nghĩa, bản thân nó là một cái gì đó vừa cụ thể vừa trừu tượng, vừa minh nhiên, vừa hàm chứa, đầy bí ẩn mung lung. Chẳng vậy mà khi được hỏi về thời gian, thánh Augustin đã nói: “Thời gian, tôi có thể biết rất rõ nó là như thế nào, song tôi lại không sao mô tả cho người khác biết được”. Chung quy, khía cạnh triết học mà con người quan tâm là thời gian có phải là một thực thể tự hữu hay không? Hoặc giả nó chỉ trừu tượng, tồn tại đơn thuần trong ý thức của con người? Trả lời những câu hỏi trên theo cả hai hướng khẳng định, hay phủ định đều không đơn giản. Bởi lẽ theo thiền sư Long Thọ, người được xem là một trong những triết gia biện chứng lỗi lạc nhất của mọi thời đại, đã xây dựng nên trường phái Trung quán luận nổi tiếng của Phật giáo Đại thừa. Theo trường phái này, bất cứ một luận điểm khẳng định nào cũng tất yếu dẫn đến một luận điểm phủ định. Do đó, sự chứng minh của một định đề thường không vượt qua được một phản đề. Tuy nhiên, nghịch lý này chỉ là sản phẩm của thế giới hiện tượng, chứ không phải là bản chất bất khả tri của nhận thức. Bởi vậy, chân lý theo Long Thọ không phải là khẳng định, cũng không phải là phủ định, mà là trung điểm (MADHYA). Tóm lại, Trung quán luận bác bỏ những quan điểm phiến diện, cực đoan và siêu việt lên trên mọi cố chấp của đời thường.

Vậy nên, theo Trung quán luận có hai loại chân lý:

 1. Chân lý tuyệt đối (Absolute reality): Chân lý này bất khả tư nghì (unthinkable), không thể nghĩ bàn được và chỉ có thể được chứng nghiệm bởi những ai đã ngộ đạo.

 2. Chân lý tương đối (Relative reality): Thuộc thời gian nên nó còn được gọi một cách rất có ý nghĩa là chân lý thời gian, bởi những khái niệm của nó thường chỉ có giá trị trước những gì xảy ra trong khuôn khổ của thời gian tương đối thuộc thế giới hiện tượng, nên nó hoàn toàn bất lực trước chân lý tuyệt đối nằm ngoài không - thời gian.

Như vậy, trước A. Einstein gần 2000 năm, thiền sư Long Thọ đã thấu hiểu tính tương đối của thời gian, và coi đặc điểm tuyến tính của thời gian chỉ là ảo giác nơi con người. Tuy nhiên, khái niệm về thời gian tuyến tính đã thống trị tư duy vật lý cổ điển của Newton trong suốt mấy trăm năm. Thời gian, theo quan niệm của vật lý cổ điển, là một thực thể độc lập tuyệt đối trong vũ trụ, nó đã trôi đi theo một chiều bất thuận nghịch từ vô thủy đến vô chung, nó không chịu ảnh hưởng bởi bất cứ những gì xảy ra trong vũ trụ. Mặc cho không gian bao la, mặc cho các vật thể chuyển động, các lực hút, lực đẩy tạo nên trường hấp dẫn trong đó, nó vẫn cứ liên tục, đều đều trôi đi một cách vô cảm và bất biến. Vậy nên ý nghĩ cho rằng thời gian là một thực thể tuyệt đối đã ngự trị đầu óc con người từ ngàn xưa âu cũng là chuyện tự nhiên vậy.

Phải tới năm 1915, khi lý thuyết tương đối toàn phần của A Einstein ra đời, ông chỉ ra rằng: “Tất cả mọi chúng ta đều đã bị lừa, bản chất đích thực của thế giới không phải như chúng ta tưởng, những gì mà chúng ta vẫn cho là ổn định, là bất biến, tuyệt đối, thật ra chỉ có giá trị tương đối trong phạm vi nhỏ hẹp của đời sống hằng ngày mà thôi. Xét về căn bản, chúng chẳng có gì là bền vững và ổn định mà hoàn toàn hư ngụy. Vật chất hư ngụy, không gian hư ngụy, và thời gian, cái tưởng như tuyệt đối, cũng chỉ là hư ngụy nốt”!

Trước hết, thời gian không phải đã có từ vô thuỷ như một thực thể độc lập tuyệt đối, mà nó chỉ bắt đầu tồn tại cùng lúc với vũ trụ được sinh khởi trong một vụ nổ lớn gọi là Big Bang. Và chính sự bùng nổ của vật chất hoang sơ khi ấy, đã khởi động chiếc đồng hồ vũ trụ vào thời điểm 10.-43 giây, từ một điểm gần như bằng “không” của vũ trụ. Để tới ngày nay vật chất ấy đã đồng hành cùng thời gian, tạo nên hàng trăm tỷ thiên hà, đạt tới kích thước bán kính vũ trụ vào khoảng 15 tỷ năm ánh sáng. Vậy là thời gian có điểm khởi đầu, và một khi đã có khởi đầu tất phải có kết thúc. Như thế, đặc điểm tuyến tính tuyệt đối, vốn được xem là vô hạn ở hai đầu mút quá khứ và tương lai của thời gian, phải bị loại trừ. Trên cơ sở đó Einstein đã chứng minh thời gian tuyến tính chỉ là ảo giác của con người và thay thế nó bằng khái niệm không thời gian bốn chiều (Continuous for dimensional space time). Theo quan niệm này, Thời gian kết hợp với không gian thành một liên thể bốn chiều thống nhất, và sự thống nhất đó còn được mở rộng sang phạm trù vật chất qua hệ thức vật lý căn bản nổi tiếng E = MC2. Hệ thức này nói với chúng ta rằng, vật chất vốn chỉ là năng lượng ẩn trong khối lượng, và nó là dạng thức tồn tại chủ yếu trong thế giới hiện tượng. Chính sự tồn tại và vận động của nó đã tạo nên không gian và thời gian, hay chính xác hơn là tạo nên những đặc tính của không gian và thời gian. Như vậy, không gian định hình bởi vật, và thời gian định tính bởi sự liên kết mật thiết với vật chất và không gian, theo nghĩa tương tác nhân duyên, tức là sự hiện hữu của vật này là điều kiện tồn tại cho vật kia, nếu vật này không còn thì vật kia cũng biến mất. Những điều tưởng như trừu tượng và khó hiểu nói trên, đã được Einstein minh định rất rõ trong một câu trả lời thật súc tích về lý thuyết tương đối của ông: “Trước đây người ta thường cho rằng; nếu bỗng dưng toàn thể vật chất vũ trụ biến mất thì vẫn còn lại không gian và thời gian. Điều này không đúng với lý thuyết tương đối, bởi nó đã chứng minh rằng; nếu vật chất trong vũ trụ không còn thì không gian và thời gian cũng biến mất”. Đúng như lời dạy kinh điển của giáo lý đạo Phật: “Không làm gì có cái gọi là thực thể tuyệt đối tự hữu”.

Sự đồng nhất đã khiến các thực thể vật chất, không gian và thời gian dung thông nhau, nên có những đặc tính của nhau. Do đó, về mặt lý thuyết, thời gian trong thuyết tương đối có thể tiến về tương lai hoặc lui về quá khứ, hệt như trong không gian ta có thể tiến lên phía trước hoặc lùi lại phía sau vậy. Tuy nhiên, điều này chỉ được quan sát thấy trong thế giới vi mô, biểu hiện qua sự phân rã của các hạt cơ bản mà sự hợp tan, tan hợp của chúng đúng với cả hai chiều thuận nghịch. Lại nữa, thời gian cũng không phải trôi đi đều đều bất biến, mà sự trôi nhanh hay chậm là tùy thuộc vào sự vận động và mật độ vật chất quanh chúng tạo ra.

Tính đồng nhất của thế giới hiện tượng còn bao gồm cả con người chúng ta, biểu hiện trong sự nhận thức thế giới đó. Giáo sư Hubert Reever giảng dạy khoa vũ trụ luận ở trường Đại học Paris đã nói rất hay rằng: “Phải chăng con người chúng ta nhận thức được vũ trụ sinh ra từ vụ nổ Big Bang là vì cơ thể của chúng ta được cấu tạo bởi những nguyên tử của vụ nổ đó, nên vẫn còn mang theo những ký ức về nó?”. Giả định đầy lãng mạn đó của ông không phải không có những nhân tố hiện thực. Thật vậy, theo giáo lý đạo Phật con người chúng ta đặc trưng bởi cái cơ thể tứ đại, gồm đất, nước, gió, lửa vốn có cấu trúc từ những hạt vật chất cơ bản tạo thành vũ trụ. Nên những đặc tính của không gian ba chiều và thời gian một chiều đã nằm ngay trong những giác quan nhận thức của chúng ta về thế giới đó. Nói một cách dễ hiểu hơn, sở dĩ chúng ta nhận thức được các vật thể có ba chiều trong thế giới bởi chúng ta là những sinh vật ba chiều. Với thời gian một chiều cũng vậy, mặc dù Einstein đã chứng minh nó chỉ là ảo giác nơi con người, song, không một ai trong chúng ta có thể khắc phục được cái cảm giác về mũi tên thời gian luôn chuyển động từ quá khứ đến tương lai. Điều này cho thấy cơ chế thời gian một chiều dường như đã được lập trình trong từng tế bào của mỗi chúng ta là để đi từ chiếc nôi đến nấm mồ chứ không phải theo chiều ngược lại. Tóm lại, chúng ta nhận thức được thế giới hiện tượng đúng như quan niệm truyền thống, là do sự tương đồng của chính bản thân chúng ta với những thành phần cơ bản của thế giới ấy. Khái niệm đồng nhất như vậy đã được mở rộng sang lĩnh vực nhận thức thuộc phạm trù tinh thần của con người. Điều này rất có ý nghĩa, bởi nó xóa nhòa cái ranh giới giữa khách thể và chủ thể mang tính nhị nguyên, mà theo nhận định bất hủ của đạo sư Tây Tạng nổi tiếng Milarepa thì đó chính là: “Hai ngụy thuyết căn bản đã giam hãm con người trong vỏ bọc vô minh”.

Tuy nhiên, tính đồng nhất của thế giới hiện tượng một mặt đã tạo nên chỉnh thể của nó, mặt khác, đó cũng chính là sợi dây ràng buộc vô cùng khắc nghiệt đối với mỗi cá thể bất kỳ, trong một thế giới bị điều kiện hóa chặt chẽ bởi những đặc trưng của nó mà đạo Phật gọi là hữu ngại. Trong thế giới đó con người bị trở ngại, bị hạn chế, bị ngăn cách bởi không gian, bởi thời gian và bởi các sự vật khác mà nguyên nhân chính là do sự đồng nhất của bản thân con người với thế giới đó! Ngẫm lời Phật dạy thật chí lý “Hữu thân hữu khổ”, hoặc của một Lão Tử đầy minh triết: “Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả vị ngô hữu thân” (Ta sở dĩ còn khổ vì hoạn nạn cũng bởi do có cái thân này).

Trong muôn ngàn trở ngại của thế giới hữu ngại làm nên nỗi khổ đời người, chung quy thời gian là nỗi khổ đã dằn vặt, ám ảnh con người nhiều nhất. Bởi lẽ mỗi con người là một hệ thống khép kín, nên nó chịu sự chi phối chặt chẽ của một định luật khoa học rất nổi tiếng, có liên quan đến thời gian, định luật này đã ảnh hưởng sâu sắc tới triết học và xã hội học đương thời. Đó là định luật thứ hai của nhiệt động học (Law of entropy) thường được phát biểu như sau: “Trong những hệ thống khép kín thì vô trật tự tức là sự hỗn độn của hệ luôn gia tăng theo thời gian. Bởi vậy mọi vật luôn tiến triển theo chiều hướng xấu đi”. Chẳng hạn, một chiếc cốc lành ở trên bàn biểu thị cho trạng thái trật tự cao, một chiếc cốc vỡ trên sàn nhà biểu thị trạng thái hỗn độn. Con người chúng ta chỉ có thể đi từ chiếc cốc lành ở trên bàn trong quá khứ, đến chiếc cốc vỡ dưới sàn nhà trong tương lai, chứ không thể đi theo chiều ngược lại.

Có thể nói, sự chuyển động của mũi tên nhiệt động học theo hướng gia tăng sự hỗn độn trong thời gian, đã minh họa cho lời dạy đúng đắn của giáo lý đạo Phật về tính chất vô thường của chúng sinh và vạn vật trong thế gian. Thật vậy, mỗi chúng  sinh chỉ là một hệ thống nghiệp báo được khép kín trong chu trình sinh, lão, bệnh, tử; nên toàn thể vạn vật trong vũ trụ chỉ là một hệ thống nghiệp báo cộng đồng, cho dù vô cùng rộng lớn, vô cùng dài lâu, cũng vẫn phải khép kín trong chu trình thành, trụ, hoại, không của nó. Hiển nhiên, ngày nay chúng ta đều đã biết vũ trụ mà chúng ta đang sống được sinh khởi cùng với thời gian cách đây khoảng mười lăm tỷ năm trong một vụ nổ lớn, và tất yếu sẽ đứng trước hai cái chết đang chờ đợi nó trong tương lai. Hoặc chết bởi sự thiêu hủy của một vũ trụ co về trạng thái nhiệt độ ban đầu khủng khiếp của nó, hoặc chết do sự giá lạnh của một vũ trụ dãn nở cho đến hết năng lượng. Bề nào thì sự kết thúc của vũ trụ cũng sẽ khiến vật chất của nó bị phân rã và tan vào hư không, do đó sẽ kéo theo sự kết thúc của thời gian. Trạng thái này của vũ trụ hoàn toàn giống với thời kỳ gọi là “không kiếp” được mô tả trong nhiều cuốn kinh của đạo Phật.

Một khi ta nhận thức được tính hữu hạn của thời gian là sinh khởi và kết thúc cùng vũ trụ tức thị đặc điểm tuyến tính giả hiệu của nó biến mất, mà thay vì chỉ còn một thời gian cầu tính, tròn trịa, sản phẩm của nghiệp báo luân hồi, được khép kín bằng chu trình sinh diệt thế gian. Từ khái niệm tuyến tính (linear) kéo dài vô hạn, đến khái niệm cầu tính (spheric) khép kín hữu hạn, thời gian đã thay đổi bản chất của nó, biểu hiện ở sự gắn liền của nó cùng với chu trình sinh diệt của cảnh giới mang nghiệp báo luân hồi. Nên về thực chất, thời gian là đồng nhất với nghiệp. Nhận thức này sẽ khiến ta ngộ ra rằng: không hề có sự trôi đi của một thời gian đích thực nào cả! mà chỉ có chu trình sinh diệt của những thực thể mang nghiệp báo luân hồi (bao gồm vạn vật vô tri và chúng sinh hữu tình), được lập trình theo trật tự nhân quả, đã tạo ra cái ảo giác về sự trôi đi theo một chiều của cái gọi là thời gian tuyến tính. Hoặc nói một cách khác chặt chẽ hơn, khái niệm thời gian tuyến tính chỉ là sản phẩm được sinh ra từ ý niệm nhân quả mà thôi. Tình hình cũng giống như khi ta đang đi trên một con tàu vậy. Sự chuyển động của ta theo con tàu luôn tạo ra cái ảo giác về sự trôi đi của cảnh vật hai bên đường. Khi nào con tàu dừng lại, cảnh vật sẽ dừng trôi. Điều này hoàn toàn đúng cho những chủ thể đang hành trình trên con tàu nghiệp báo của chu trình sinh diệt. Chính là sự chuyển động theo tiến trình nhân quả của con tàu đã tạo nên cái ảo giác của sự trôi đi của thời gian. Một khi con tàu dừng lại, xem như các chủ thể đã đoạn nghiệp, nên thấy thời gian lập tức ngừng trôi.

Các nhà thiền học nổi tiếng của đạo Phật hiểu rõ điều này không phải bằng suy luận thuần túy, mà bằng sự trải nghiệm qua thiền định của chính bản thân họ. Ta hãy nghe thiền sư Đạo Nguyên nói về bản chất bất động nói trên của thời gian:

Hầu hết mọi người tin rằng thời gian đã trôi qua; trong thực tế nó ở đâu vẫn nguyên đó. Cái ý niệm về sự trôi qua này, có thể gọi là thời gian, nhưng đó là một ý niệm không đúng, bởi vì người ta chỉ coi như nó đi qua, mà không hiểu được rằng, nó ở chỗ nào vẫn nguyên ở chỗ ấy”. (Nguyên văn trong tiếng Anh: “It is believed by most that time passes; in actual fact, it stays where it is. This idea of pasing may be called time, but it is an incorrect idea for since one sees it as passing, one connot understand that it stays where it is”).

Ý tưởng về sự bất động của thời gian nói trên có vẻ là một nghịch lý đối với chúng ta, nhưng nó lại rất tương đồng với sự suy luận của các nhà vật lý hiện đại về bản chất động và bất động của thời gian, biểu hiện qua sự khác nhau của thời gian tâm lý và thời gian vật lý. Thời gian tâm lý là thời gian trôi theo đời người, mà tất cả mọi chúng ta đều phải gánh chịu. Hiển nhiên sự phân chia giữa quá khứ, hiện tại và tương lai đã chi phối đời sống của chúng ta, làm nên những số phận khác nhau và chính nó đã tạo nên nền tảng ngôn ngữ của con người với các động từ được phân chia rành rẽ ở ba thời quá khứ, hiện tại và tương lai. Như vậy, xem như thời gian có chuyển động, song, khi mô tả cụ thể sự chuyển động của nó lại không phù hợp với ngôn ngữ của vật lý học hiện đại. Chẳng hạn, nếu thời gian có chuyển động thì vận tốc của nó bằng bao nhiêu? Một câu hỏi thật vô nghĩa! Mặt khác, nếu cho rằng chỉ có thời điểm hiện tại là thực tại thời gian duy nhất. Điều này lại không tương thích với thời gian của lý thuyết tương đối mà Einstein đã nói rõ rằng: “Quá khứ của người này có thể là hiện tại của người khác và thậm chí còn là tương lai của người khác nữa!”

Vậy, với thời gian vật lý, không còn phân biệt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Tất cả mọi thời điểm là bình đẳng như nhau, vì khái niệm phân chia ba thời bị loại bỏ nên thời gian ở đây thực chất đúng như sự mô tả của thiền sư Đạo Nguyên là nó ở chỗ nào vẫn nguyên ở chỗ ấy. Đó chính là thời gian trung đạo của thiền sư Long Thọ: Xem hiện tiền bất động là tuyệt đối, viên dung tất cả quá khứ lẫn vị lai. Các nhà vật lý lượng tử hiện đại cũng cho rằng, trước Big Bang, thời gian chưa trôi và một giây tương ứng với vĩnh hằng. Đúng như tinh thần Hoa Nghiêm: Trong một sát na bao gồm toàn thể thời gian từ vô thuỷ đến vô chung.

Tuy nhiên, các nhà vật lý vẫn chưa hiểu do đâu có sự khác biệt giữa thời gian tâm lý và thời gian vật lý. Theo thiển ý của chúng tôi, vấn đề sẽ khá rõ nếu ta gọi thời gian tâm lý trôi theo dòng sinh diệt thế gian là thời gian nghiệp báo, và gọi trạng thái không trôi của thời gian vật lý là thời gian phi nghiệp. Bởi như chúng tôi đã trình bày ở trên, thời gian là đồng nhất với nghiệp, nên chuyển động tuyến tính của nó chỉ là ảo giác của con người còn mang nghiệp báo trong thế giới nhân quả (điều này đã được thiền sư Long Thọ chỉ rõ) và một khi không còn nghiệp báo, chủ thể sẽ chứng nghiệm sự tĩnh tại hoàn toàn của trạng thái phi thời gian tức thời gian phi nghiệp vậy. Chính sự chứng nghiệm phi thời gian này nên thiền sư Huệ Khả đã viết: “Ba thuở cầu tâm, tâm chẳng có” (“Tam thế cầu tâm, tâm bất hữu”). Ba thuở và tâm nói trên chính là: tâm quá khứ, tâm hiện tại và tâm vị lai đều chỉ là “không” khi hành giả ngộ đạo. Thế nên sinh tử cũng chỉ là “không” nốt, mà tròn đầy trước mắt chỉ còn lại cái hiện tiền.  Hãy nghĩ xem: ngộ đạo là thức tỉnh, mà thức tỉnh thì chỉ có thể thức tỉnh trên cái hiện tiền. Nghĩa là thức tỉnh khỏi những mộng lớn, mộng nhỏ thuộc dĩ vãng và vị lai trong cái hư ảo của thời gian kiếp người. Vậy nên ngồi thiền là chuyển tất cả chú tâm vào cái hiện tiền để cho trí huệ quán chiếu và bao trùm tất cả trong một cái thấy toàn diện, nhất như.

Phải chăng, vì thấu hiểu điều này, nên các truyền thống tôn giáo Đông phương mà biểu hiện là Phật giáo và Ấn giáo luôn chỉ dẫn cho tín đồ của họ những phương cách để vượt lên kinh nghiệm thông thường về thời gian, và tự giải thoát khỏi vòng nhân quả, khỏi nghiệp báo luân hồi. Bởi vậy người ta thường nói rằng mục đích của Huyền học Đông phương là sự giải thoát khỏi thời gian. Vậy giải thoát khỏi thời gian chủ thể sẽ đi về đâu? Theo quan niệm Phật giáo, chủ thể sau khi tu tập đã dừng nghiệp, tức thị trở về trạng thái chân tâm, hoàn toàn vô ngã, nên nó đã siêu vượt lên mọi cảnh giới còn mang nghiệp báo, để đồng nhất hóa với cái “không” bản thể của cảnh giới phi thời gian tức thời gian phi nghiệp vậy. Đây chính là cảnh giới của các vị Phật và những chúng sinh tu hành đắc đạo, chứng được a la hán quả, nên ở đó không còn phân biệt chủ thể, khách thể mà hoàn toàn bình đẳng, tự tại bất biến và thường định trong cái tuyệt đối tĩnh lặng của trạng thái phi thời gian. Vậy nên các chủ thể một khi đã đồng nhất với nó, sẽ không còn sinh diệt, không còn nhân quả, không còn sự phân chia quá khứ hay vị lai. Do đó, không còn khái niệm trước sau. Tóm lại, mọi rào cản hữu ngại đã bị gỡ bỏ, nên tất cả đồng hiện ra trong một cái thấy toàn diện, nhất như của trí tuệ vô ngại trong một sát na (lượng tử thời gian) hiện tiền. Đúng như đức Phật khi thành đạo, ngài đã thấy lại vô lượng kiếp quá khứ của bản thân và vô lượng kiếp vị lai của chúng sinh khốn cùng đã hiện ra trong thời khắc hiện tiền này. Đó là cái hiện tiền vĩnh cửu (eternal now) dung nạp cả quá khứ lẫn vị lai trên mặt bằng của nó, mà thiền sư Suzuki đã mô tả như sau: “Trong cõi giới tâm linh này, không hề có sự phân chia thời gian thành quá khứ, hiện tại hay tương lai; bởi vì thời gian đã tự thu vào chỉ trong một khoảnh khắc hiện tại mà thôi”.(Nguyên văn trong tiếng Anh: “In this spiritual world, there are no time divisions such as the past, present and future; for they have contracted them-selves into a single moment of the present”) Và cái hiện tiền vĩnh cửu nói trên chính là sát na thường trụ mà Lục tổ Huệ Năng gọi là cái hiện tại tuyệt đối, không bị hạn chế bởi ranh giới nào, nên nó chính là niềm vui bất diệt. Nói một cách khác, sát na ấy là cảnh giới như thị của hàng đạt đạo đã chứng nghiệm cái lý vô sinh của nhà Phật.

Tuy nhiên, đạo Phật không chỉ quan tâm tới mục đích xuất thế siêu phàm mà quên đi nỗi bức xúc của chúng sinh trong thời gian. Bởi chúng sinh hiện hữu ở thế gian, nên tồn tại theo thời gian, do đó, có thời gian từ khi tạo nghiệp cho đến lúc chịu nghiệp báo. Chừng nào còn nghiệp thì thời gian còn theo nó như hình với bóng. Hiểu rõ thực tế này nên các thiền gia đạo Phật luôn hướng dẫn chúng sinh những phương cách để thích nghi và vượt lên thời gian hiện tồn của chủ thể, bởi xem nó là người bạn đồng hành của những ai còn mang nghiệp báo luân hồi.

Chấp nhận thực tế này thông qua việc hành thiền sẽ giúp chúng ta chung sống một cách dễ chịu với thời gian, qua đó tìm thấy cảm giác tự do và cảm xúc sáng tạo của con người nhập thế. Hơn thế nữa, việc hành thiền sẽ giúp ta tái lập cơ chế bản nguyên của tự tính con người vốn là tự tại và thường trụ bên ngoài thời gian. Vì vậy, nó chính là phương tiện để đạt tới sự giác ngộ, để thấy rõ “cái tôi” thực sự trong một thực tiễn thời gian duy nhất của một hiện tiền vĩnh cửu. Như vậy, là ta đã siêu việt thời gian trong tư cách của con người xuất thế. Khắc chế được cái cảm giác dằn vặt đau đớn về thời gian luôn lẽo đẽo bám theo kiếp người.

Sau hết, để cho bài viết còn sơ lược này được rõ nghĩa hơn, chúng tôi xin kể thêm rằng, cách đây đã nhiều năm có một nữ tác giả Nhật Bản tên là Yachiyo Kato vốn là một Phật tử nên bà đã viết một vở kịch mà nhân vật trong đó là một người đàn ông, do nỗ lực tu tập nên đã hoàn toàn giải thoát khỏi sự ràng buộc của cơ thể, và đạt tới trạng thái siêu thoát của một sinh vật tâm linh thuần túy. Tên của anh ta là Emiton đọc ngược lại theo tiếng Anh là “Notime” có nghĩa là “phi thời gian”. Từ vở kịch độc đáo trên, dường như tác giả muốn thông điệp với chúng ta rằng ý nghĩa giải thoát đích thực của con người là sự giải thoát khỏi thời gian. Và muốn vậy, chúng ta hãy đảo ngược những quan niệm cố hữu về thế giới hiện tượng do nghiệp lực tạo nên ở mỗi người, cũng giống như sự đảo ngược cái tên Emiton trong vở kịch thành Notime. Như vậy, chân lý giải thoát phi thời gian sẽ được hiển lộ.

Chí Anh: nguồn:dacsansuoinguon.org

 

 

Sáng ngời đức Vô úy

 

image
Đức vô úy sáng ngời của Bồ-tát Quảng Đức chính là sự thể hiện đức vô úy của Phật giáo bao gồm Bi, Trí, Dũng như đã nói. Qua hình ảnh tự thiêu của Bồ-tát, đông đảo người trên thế giới cảm nhận sự dũng cảm tức đức Vô úy của ngài, mà vì số đông không phải là tín đồ Phật giáo nên họ không nghĩ tới Từ bi và Trí tuệ vốn bao gồm trong Vô úy.



Sáng ngời ngọn lửa Vô úy

Trưa ngày 11-6-1963, tức giờ Ngọ ngày 20 tháng Tư năm Quý Mão, tại ngã tư Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng, Sài Gòn (nay là Cách Mạng Tháng Tám – Nguyễn Đình Chiểu, Q.3, TP.HCM), Hòa thượng Thích Quảng Đức đã vị pháp thiêu thân, phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm kỳ thị tôn giáo, đàn áp Tăng Ni Phật tử, phá hoại và ngăn trở sự phát triển của Phật giáo…

Vị Bồ-tát đoan tọa, tự tay châm lửa đốt cháy nhục thân mình. Ánh lửa bừng lên như ánh hào quang rực sáng trong khi ngài vẫn an nhiên ngồi kiết già. Hàng trăm Tăng Ni, Phật tử vây quanh ngài, khấn nguyền, sụp lạy. Các phóng viên ngỡ ngàng, hoảng hốt, xúc động và vô cùng thán phục. Nhà báo David Halberstam của tờ New York Times(được giải Pulitzer và là tác giả tập sách nổi tiếng The Making of A Quagmire, Tạo Một Bãi Lầy) đã viết, “Lửa từ thân người bùng lên; thân thể ngài khô cứng lại, đầu ngài ngã ra sau và cháy đen. Không khí có mùi thịt người cháy; thân thể con người bốc cháy thật nhanh một cách đáng ngạc nhiên. Tôi có thể nghe tiếng khóc nức nở của những người Việt đang tụ tập đằng sau tôi. Tôi quá bị sốc để la lên, quá bối rối để ghi chép và để đặt các câu hỏi, quá lúng túng để cả suy nghĩ nữa… Khi lửa cháy, ngài không hề nhúc nhích một thớ thịt nào, không hề phát ra một âm thanh nào. Vẻ bên ngoài của ngài thật trái hẳn với những người đang kêu khóc quanh ngài.” (Sđd, 1965, trang 211).

Khoảng mười phút sau, nhục thân ngài đã cháy thành than. Cảnh sát, mật vụ, lực lượng đặc biệt của Ngô Đình Diệm tìm cách phá vòng rào Tăng Ni, Phật tử đang vây quanh ngài nhưng không thể được. Một nhân viên cảnh sát xúc động, kính cẩn sụp lạy nhục thân ngài.

Ngày hôm sau, 12-6-1963, tờ New York Times đăng bài tường thuật của David Halberstam. Liên tiếp những ngày sau đó, tờ báo này cũng như nhiều báo khác cùng đa phần các đài truyền thanh, truyền hình, như Sunday Edition, Life Magazine… tiếp tục đăng tin tức; nhất là tờ Life Magazine trong các số tháng 6, tháng 8, tháng 9, tháng 11… Thật khó có thể kể hết những lời ca ngợi, thán phục sự hy sinh cao cả của ngài Thích Quảng Đức và lên án chính quyền Ngô Đình Diệm. Rồi các nhà tôn giáo, chính khách, văn nghệ sĩ… cũng nêu lên tiếng nói cảm phục tinh thần dũng cảm của Bồ-tát Quảng Đức và của Tăng Ni, Phật tử Việt Nam. Các bức ảnh ghi lại hình ảnh tự thiêu của Bồ-tát Quảng Đức do Malcolm Browne, chánh văn phòng Associated Press, được giải Pulitzer năm 1964, được nhanh chóng phổ biến khắp thế giới. Ngọn lửa Quảng Đức đã thức tỉnh cả nhân loại, ánh sáng dũng liệt này đã ảnh hưởng đến bao nhiêu lương tâm con người trên hành tinh. Ngọn lửa của Bi, Trí, Dũng (Từ Bi, Trí Tuệ, và Vô Úy trong tinh thần bất bạo động). Di bút của Bồ-tát tràn đầy từ bi, cầu Phật gia hộ cho ông Ngô Đình Diệm sáng suốt, cho Phật giáo Việt Nam trường tồn, cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam tránh được sự khủng bố, bắt bớ, giam cầm… Và hai câu thơ sau đây của ngài thấm đậm từ bi:

Thân nầy cháy nát ra tro trắng
Thần thức nương về giúp sinh linh.

Trí tuệ cao vời của ngài thể hiện ở chỗ ngài biết sự nguy cơ làm hại Phật giáo và nhân dân của chế độ độc tài, chọn phương pháp bất bạo động, dùng ngọn lửa thiêng từ nhục thân để cúng dường đạo pháp, dân tộc và tranh đấu với chính quyền Sài Gòn, tạo được sự đoàn kết, tinh thần tranh đấu của quần chúng Tăng Ni, Phật tử, biết chắc sự thành công tối hậu. Và như trên đã nêu, sự uy dũng, đức vô úy của ngài trong việc hy sinh thân mạng, chịu đựng đau đớn, nóng bỏng, vẫn an nhiên đoan tọa trong ngọn lửa bừng bừng cho đến khi nhục thân cháy thành tro than.

Sáng ngời đức Vô úy của Phật giáo

Đức vô úy sáng ngời của Bồ-tát Quảng Đức chính là sự thể hiện đức vô úy của Phật giáo bao gồm Bi, Trí, Dũng như đã nói. Qua hình ảnh tự thiêu của Bồ-tát, đông đảo người trên thế giới cảm nhận sự dũng cảm tức đức Vô úy của ngài, mà vì số đông không phải là tín đồ Phật giáo nên họ không nghĩ tới Từ bi và Trí tuệ vốn bao gồm trong Vô úy.

Đức Phật còn được gọi là Đấng Đại hùng, Đại lực, Đại từ bi. Đại hùng là Vô úy, Đại lực là Trí tuệ (Đức Phật, đấng mười lực, chủ yếu là các sức mạnh trí tuệ), Đại từ bi là thương yêu cứu vớt muôn loài. Ta có thể nhận thấy sự vô úy của Ngài qua sự việc Ngài từ bỏ ngai vàng, cuộc sống vương giả, vợ con… để trở thành vị tu sĩ lang thang không nhà, chống chỏi với mọi khó khăn nguy hiểm trên đường tìm đạo. Khi sắp thành Đạo, Ngài đã uy dũng nhiếp phục ma quân. Ngài độ cho quỷ Alavaka (Kinh Kim quang minh Tối thắng vương, Kinh Quán Phật Tam muội hải), độ cho tướng cướp Angulimala (Trung bộ 86), nhiếp phục voi dữ (Culavagga 7 – Tiểu phẩm). Kinh Bổn sanh đã kể về tiền kiếp của Đức Phật: khi thì là người trưởng đoàn thương gia, lúc là nai, chim… đầu đàn, đã can đảm đứng ra chống kẻ mạnh để cứu đồng loại…

Vô úy là không sợ hãi. Kinh Không sợ hãi và khiếp đảm (Trung bộ 4) ví việc tu trong rừng thẳm với việc đối trị sự sợ hãi, và nêu ra các nguyên nhân khiến sợ hãi, đại khái như sau: không kham nhẫn khổ nhọc; không thanh tịnh thân khẩu ý; thiếu từ tâm; tâm dao động, bất an, tham lam, biếng nhác, ngu tối… Biết những nguyên nhân ấy tức là biết cách có được sự vô úy. Cũng trong kinh này, Đức Phật còn dạy, “Một số Sa-môn, Bà- la-môn nghĩ ngày giống đêm, đêm giống ngày; ta nghĩ rằng ngày là ngày, đêm là đêm.” Lời dạy này có nghĩa là phải đối mặt với thực tế, dũng cảm, vô úy, chứ không sợ hãi, né tránh.

Kinh Phật nói Bốn Vô sở úy (Tăng nhất A-hàm) nêu bốn điều sau đây về sự vô úy của Đức Phật: 1. Như Lai rõ biết tất cả các pháp nên không sợ điều gì cả; 2. Như Lai dứt hết phiền não nên không sợ chướng ngại bên ngoài; 3. Như Lai tuyên bố mọi chướng ngại tiêu diệt thì Thánh đạo tự hiện mà không sợ bị ai bắt bẻ; và 4. Như Lai không sợ các chúng sinh ở các cõi nghi ngờ về sự sâu xa khó hiểu của pháp tướng, đạo xuất thế.

Việc truyền bá Chánh pháp như trên cũng được chư Bồ-tát thực hiện với tinh thần vô úy; gọi là bốn điều vô sở úy cùa Bồ-tát mà kinh Đại thừa Bảo vũ 4  Đại Trí độ luận 5 nêu: 1. Tự tin khi thuyết pháp, không sợ bị sai nghĩa; 2. Biết rõ căn tính của chúng sinh mà thuyết pháp nên không sợ hãi gì; 3. Giải đáp khéo léo rõ ràng nên không sợ bị gạn hỏi; và 4. Nghe hỏi thì giải thích và đoạn trừ nghi cho người hỏi nên không sợ hãi gì.

Đức Vô úy bao gồm Trí tuệ và Từ bi, không sợ hãi vì biết rõ các pháp, biết tất cả đều là không, không người, không ta, không của ta, không phân biệt, không sở hữu, vô ngại, bình đẳng. Từ đó thể hiện từ bi rộng lớn, phát đại nguyện cứu độ hết thảy chúng sinh, bố thí tất cả sở hữu khi cần thiết. Kinh Phạm võng Bồ-tát giới ghi: “Nhẫn đến xả thịt nơi thân mình cùng tay chân mà bố thí”.

Kế thừa tinh thần Vô úy của Phật giáo, Phật giáo Việt Nam đã là một thực thể vững mạnh, góp công xây dựng và bảo vệ đất nước trong suốt hai ngàn năm qua. Phật giáo hiền hòa nhưng tiềm ẩn sức mạnh, có thể bảo vệ mình và bảo vệ chúng sanh. Lịch sử cho thấy mối liên hệ thịnh suy giữa đất nước và Phật giáo. Nước thịnh thì Phật giáo thịnh, nước suy thì Phật giáo suy và ngược lại.

Nhân kỷ niệm 50 năm công cuộc tranh đấu của Phật giáo Việt Nam chống chế độ độc tài gia đình trị, kỳ thị tôn giáo, đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm tại miền Nam Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1963, đồng thời cũng là kỷ niệm 50 năm Bồ-tát Quảng Đức vị pháp thiêu thân, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng sức mạnh vô úy đã là thể tính tạo thành “quả tim bất diệt”. Chính Bi, Trí, Dũng là hào quang được tỏa ra từ tinh thần vô úy, là tính chất của giáo lý Không, Vô ngã, Vô phân biệt; tức là con đường Trung đạo tinh yếu của giáo lý Đức Phật. Sức vô úy đã tạo thành sự đoàn kết, đoàn kết lại làm mạnh sức vô úy.

Hãy thắp sáng tinh thần Vô úy nơi tự thân trong sinh hoạt thường nhật

Trong vô lượng kiếp sanh tử luân hồi, phần nhiều do chấp thủ và ái kiến mà con người cứ ôm ấp ảo tưởng trong tham sân si và thất tình, lục dục… cứ ngỡ nó là mình và của mình; nên khi được thì vui, không được thì buồn và mất thì lại càng tức tối, đau khổ. Đến khi quy ngưỡng Phật pháp kịp nhận ra tất cả chỉ là phù du; càng tích chứa tham sân si, càng vui buồn mừng giận thương ghét muốn bao nhiêu thì lòng càng vướng bận, nặng nề, khổ sở bấy nhiêu. Chính tham sân si và vui buồn mừng giận là ngòi nổ của mọi bi thương. Khi ấy, con người tự tỉnh thức, biết dừng lại nơi chính mình nhen nhúm tu tập các đức tính “Từ, bi, hỷ, xả” mà Đức Phật đã giáo huấn, biết thương chính mình và dần dần nẩy nở biết thương yêu chúng sanh và vạn vật xung quanh mình. Khi biết thương người thì cũng là lúc ta biết “quên mình”. Nếu đã “quên mình” được rồi thì ngay lúc đó tinh thần vô úy phát khởi và nó dần dần tăng trưởng. Đến khi tinh thần vô úy tăng trưởng và hiện hữu rồi thì trong danh vị cũng không tham hưởng thụ, trong sinh tử khổ nguy cũng không sợ hãi.

Hãy luôn luôn thắp sáng ngọn lửa thiêng trong lòng, thắp sáng trong hành động, thắp sáng trong ngôn ngữ, thắp sáng từ trong tâm tưởng: xấu ác quấy không làm, xấu ác quấy không nói, xấu ác quấy không suy nghĩ. Dù ở đâu, đi đâu, trong chùa hay ngoài chùa, trong nhà hay ngoài đường hay nơi làm việc, buôn bán… là Tăng Ni, Phật tử đệ tử của Đức Phật chúng ta hãy luôn thắp sáng ánh lửa trí tuệ, ánh lửa từ bi, ánh lửa vô úy trong lòng. Gặp nghịch cảnh chúng ta hãy thắp sáng ánh lửa thiêng từ bi, quán chiếu nhân quả nhiều đời, vui lòng trang trải gỡ mối oan gia… làm cho dòng suối thương yêu, dòng suối vô úy mát mẻ muôn đời. Gặp thuận cảnh chúng ta hãy thắp sáng ánh lửa thiêng trí tuệ bừng lên, tỏ rõ… không ỷ lại, không dễ duôi, không tự mãn, không thụ hưởng, không mê hoặc đong đưa chuyền níu mê vọng. Chẳng những lúc nào cũng gìn giữ, thắp sáng ánh lửa thiêng tri túc tự lòng mà còn đem những phước lực sẵn có chia sẻ với cuộc đời, với những mảnh đời bất hạnh.

Chính Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni cũng đã từng giáo huấn cho hàng đệ tử xuất gia và tại gia rằng “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”. Nhân kỷ niệm 50 năm ngày Bồ-tát Quảng Đức “vị pháp thiêu thân” để bảo vệ Chánh pháp trường tồn, chúng ta những người con Phật luôn luôn nương bóng mát chư Phật, chư Thánh Hiền Tăng, Bồ-tát Quảng Đức, luôn thắp sáng ngọn đuốc tuệ giác nơi tự thân để soi sáng mọi nơi, mọi chỗ trong cuộc sống đời thường. Đây chính là chúng ta biểu thị một cách chân chánh biết ơn, nhớ ơn Tam bảo; biết ơn, nhớ ơn chư vị Bồ-tát và Bồ-tát Quảng Đức… Đồng thời, noi gương Bồ-tát kiên định nung nấu “quả tim bất diệt” nơi chính lòng mình, góp phần phụng sự Đạo pháp – Dân tộc và Chúng sinh. „

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 178: THÍCH GIÁC TOÀN

 

 

Kham nhẫn theo tinh thần Pháp hoa

NSGN - Nhẫn nhục hay kham nhẫn là một trong sáu pháp Ba-la-mật mà Đức Phật dạy Bồ-tát phải thể nghiệm trên lộ trình hành Bồ-tát đạo. Trong bài này, chúng tôi triển khai pháp kham nhẫn theo tinh thần Pháp hoa.

Trong phẩm Pháp sư thứ 10, kinh Pháp hoa, Đức Phật dạy rằng sau khi Như Lai diệt độ, nếu có người nào muốn giảng kinh này, phải vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai và lên tòa Như Lai. Tòa của Như Lai là trí Bát-nhã, áo của Như Lai là hạnh nhu hòa, nhẫn nhục và nhà của Như Lai là tâm từ bi.

 Như vậy, thể hiện lời Phật dạy, trên bước đường tự hành hóa tha theo Bồ-tát pháp, hành giả cần tu pháp nhẫn. Tuy nhiên, hành giả trang nghiêm bằng tâm nhẫn nhục, đi vào trần thế với mục tiêu làm người an vui hết khổ, nhưng họ lại nghĩ hành giả đến để lợi dụng. Va chạm thực tế phũ phàng này, hành giả tự nghĩ mình đến Ta-bà không cần bất cứ gì, tại sao lại chịu nhục như thế, liền rũ áo trở về ngay.

nsgn 2.jpg

Thái độ dứt khoát như vậy không phải là Bồ-tát Pháp Hoa, không thể hiện hạnh nhẫn nhục của Bồ-tát Pháp Hoa.

Bồ-tát Pháp Hoa có sức kham nhẫn lạ lùng. Chúng sanh càng đối xử tệ ác bao nhiêu, tâm từ bi của các ngài càng phát triển bấy nhiêu. Nói cách khác, hình ảnh kham nhẫn kiểu mẫu không ai khác hơn là Đức Phật chịu đựng trong suốt bốn mươi chín năm ở Ta-bà. Trên bước đường giáo hóa độ sanh của Phật, không phải lúc nào cũng phẳng lặng, bình an. Với nhẫn lực siêu tuyệt, Ngài vượt mọi tai ách.

Điển hình như câu chuyện lịch sử có ghi rõ một Bà-la-môn giết con, rồi vu oan cho Phật hiếp dâm và giết con ông. Nhưng Phật kiên nhẫn ở lại cuộc đời, chỉ vì lòng thương tưởng đối với mọi người. Mười phương Phật hay Phật cửu viễn sai Kim Cang thủ hộ hữu hình và vô hình hộ vệ Phật Thích Ca. Và trên thực tế, vua Ba Tư Nặc là vị hộ pháp đắc lực nhất. Ông ra lệnh điều tra thì kết quả chính người Bà-la-môn đã giết con để vu khống, bôi lọ Phật.

Có một số người nghĩ đơn giản rằng ta chỉ nhịn đối phương, mọi việc sẽ êm.  Trước hết cần xác định nhẫn nhục không phải là sự cố gắng nhịn nhục. Bằng nghiệp thức của con người hiểu biết, phân biệt, nhịn chịu, hành giả đang tu nhẫn nhục của thế nhân, không phải nhẫn nhục pháp của Bồ-tát, của Như Lai. Riêng chúng sanh trong địa ngục Vô gián, chịu đựng ngày này qua tháng nọ, nhưng không bao giờ thành Phật, càng chịu đựng, họ càng đau khổ, sân hận.

 Cần hiểu rằng nhẫn nhục của Bồ-tát là làm thế nào kẻ ác không còn phá rối được nữa. Hành giả phải trừ tận gốc, vì nhịn hoài, họ kiếm chuyện hoài. Đến lúc không nhịn nổi, sẽ bung ra tâm ác và thái độ đối phó càng dữ hơn.

Pháp nhẫn Phật dạy thuộc giới tánh, có công năng đoạn sạch chướng ngại cho hành giả. Pháp nhẫn được triển khai thành ba loại là chúng sanh nhẫn, pháp nhẫn và đại nhẫn. Hội đủ ba pháp nhẫn này mới hình thành nhẫn nhục Ba-la-mật. Nói cách khác, khi nào không còn gì trên trần thế mà hành giả phải chịu đựng, mới đạt được pháp nhẫn Ba-la-mật.

Nhẫn của thế gian cắt lòng ta, nhưng mặc áo Như Lai rồi, hành giả thản nhiên trước mọi sự kiện, không phải nhịn bằng ý thức nhịn. Khoác áo giáp nhẫn của Như Lai, hành giả bình ổn lạ thường, không có đối phó, dù là đối phó bằng cách nhịn.

Sự nhẫn nhục do thọ trì đọc tụng kinh sanh ra, bộc phát tự đáy lòng, là một nhẫn lực tự nhiên, phát ra ngôn ngữ nhu hòa, xoa dịu lòng người.

Chúng sanh nhẫn

Phật hiện thân vào thế giới Ta-bà, biết rõ căn tánh hành nghiệp của chúng sanh, nên Ngài giáo hóa chúng sanh không chướng ngại.

 Bồ-tát hành đạo cũng vậy, dùng vô số phương tiện điều phục chúng sanh cang cường. Các ngài tu pháp nhẫn, nhường nhịn chúng sanh để không chạm tự ái của họ và theo dõi nghiệp ác, suy nghĩ, ham muốn của chúng sanh, các ngài lần sửa đổi, phát huy tri thức và đạo đức cho họ tốt hơn.

 Phật dạy hành giả Pháp hoa phải nhẫn nhục, vì tu Pháp hoa hiện thân con người thánh thiện ắt phải đối nghịch với người ác. Việc tốt mà hành giả làm nhứt định phải gây tác hại cho người xấu. Thật vậy, khi có hai hình, chúng ta dễ so sánh, cái xấu hiện rõ, vì có điều tốt, hình ác hiện rõ vì có hình thánh thiện. Phật tiêu biểu cho ánh sáng và ma tiêu biểu cho bóng đen, ánh sáng xuất hiện thì bóng tối phải tan biến.

 Ở Ta-bà, luôn luôn tồn tại hai mặt tương phản. Hành giả Pháp hoa quan sát rõ như vậy, khởi tâm từ bi cứu người ác nghịch, sẵn sàng gánh chịu điều kỳ quặc, tệ xấu của họ. Tuy ông Phật trong họ quá nhỏ, chỉ có một điểm tâm thôi, hành giả cũng cố gắng tìm điểm dễ thương nhất, tìm điểm tốt nhất của họ để cứu giúp, nuôi dưỡng điểm thiện nhỏ nhất của họ cho phát triển.

Với trí tuệ chỉ đạo, Bồ-tát nhẫn nhục dễ dàng. Bồ-tát càng nhẫn, công đức càng tăng và quyến thuộc càng đông hơn. Thường Bất Khinh Bồ-tát thực hiện hạnh nhẫn cao độ với những người tăng thượng mạn. Sau này, họ đều trở thành quyến thuộc của ngài với đầy đủ các thành phần Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cư sĩ, Bồ-tát.

Thực hành pháp nhẫn để chuyển hóa sự hiểu biết của người, đến khi tầm nhìn của họ và Bồ-tát giống nhau, thì họ và Bồ-tát đã thành một. Được như vậy, Bồ-tát đã thành tựu pháp chúng sanh nhẫn.

Pháp nhẫn

Nghĩa là tất cả pháp thuộc hữu hình, vô hình, hữu vi, vô vi, được hành giả quan sát cùng tột ngọn nguồn để phục vụ lợi lạc cho chúng sanh.

Đầu tiên, hành giả đối phó với pháp hữu hình, hữu vi. Thực tế là cơm ăn, áo mặc, nhà ở, thuốc men, phải giải quyết trước. Hành giả tự khắc phục, tập bỏ ăn ngon chỉ ăn no, tiến đến ăn vừa đủ để duy trì sự sống bình thường. Vì chúng ta ý thức rõ ba việc ăn, mặc, ở ràng buộc suốt cuộc đời. Hành giả tự hạn chế, bớt lệ thuộc chúng để dành thì giờ, trí khôn và sức khỏe cho việc tiến tu.

Đến khi thành tựu pháp nhẫn, tất cả pháp vô tình, vô vi, hay nói chung, hành giả tác động được mọi loài trong Pháp giới theo ý muốn, điều động thiên nhiên tự tại. Chẳng những hoàn cảnh thiên nhiên không chi phối, bức ngặt hành giả; ngược lại, hành giả chuyển vật, biến nó trở thành phục vụ cho mình và người.

Đại nhẫn

 Sau khi đã chuyển chúng sanh và các pháp thuận theo hành giả, tự động pháp nhẫn thứ ba sanh ra, trở về ngũ uẩn pháp ở dạng nguyên thể thì ta, chúng sanh và pháp đồng nhất thể, hay Phật, tâm và chúng sanh trở thành một. Bấy giờ, hành giả đạt đến quả vị Như Lai.

Pháp đại nhẫn thuộc phần tâm chứng của đại Bồ-tát, khó dùng ngôn ngữ diễn bày được.

Ba pháp nhẫn là chúng sanh nhẫn, pháp nhẫn và đại nhẫn thành tựu, dẫn hành giả đến cứu cánh Phật quả.

Trên bước đường tu, muốn nhu hòa nhẫn nhục, hành giả phải tự hạ thấp mình xuống. Ngay như Phật ra đời để tuyên bày chân lý Pháp hoa, nhưng vì đại chúng chưa chấp nhận được, Ngài phải sống tùy thuận, để dần dần xây dựng tình thương rộng lớn cho họ.

nsgn 1.jpg

 Pháp sư thể hiện pháp nhẫn cao tột, sâu sắc là Nhật Liên Thánh nhân. Trên bước đường lập giáo khai tông, ngài chẳng những bác bỏ kinh sách của ngoại đạo, mà cả các kinh khác của Phật nói ra.

Ngài nói 14 phẩm đầu của kinh Pháp hoa dành cho chúng đương cơ, không phải của Bồ-tát hay chúng hậu thế. Vì chúng ta đâu có theo ngoại đạo mà phải cải tạo tư tưởng ngoại đạo sang tư tưởng Phật đạo, cũng như không theo Tiểu thừa, nên không phải chuyển từ Tiểu thừa sang Đại thừa.

Theo ngài, chúng ta trực tiếp nhận được giáo lý Đại thừa, thì cứ từ đó mà đi lên. Nếu tu các kinh khác chỉ là phú chướng giáo, hay vị đắc đạo giáo. Những người này sánh bằng cầm thú, không thể là nhà truyền giáo được và những danh sư thời đó, ngài coi là trùng độc trong thân sư tử.

Ngài chỉ trích mạnh mẽ như vậy, nhưng vì là Bồ-tát thị hiện, nên không giết ngài được mới đưa ngài đi lưu đày ngoài đảo. Khi sóng bủa ba đào, ngài đã hòa với thiên nhiên đến độ cao nhất, tạo thành một lực dụng bất khả tư nghì. Ngài chỉ niệm Nam-mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, tức thì sóng lặng bể yên.

 Sau khi đày ngài ra đảo, tình hình trong nước càng ngày càng bi đát, gặp nhiều chống đối, kinh tế khủng hoảng, thiên tai dồn dập đổ xuống và ngoại xâm hăm dọa. Lúc đó vua mới ra lệnh rước ngài về và nước Nhật từ đó thay đổi sáng sủa hơn. Tất cả sự huyền nhiệm mà ngài tạo nên làm người Nhật vững niềm tin, tôn kính ngài như Thượng Hạnh Bồ-tát.

Hoằng truyền kinh Pháp hoa sẽ gặp khó khăn như vậy. Chúng ta tự lượng sức mình có đủ khả năng làm những việc thần bí như ngài Nhật Liên hay không. Nếu không, chúng ta phải nhu hòa, nhẫn nhục như Thánh Đức thái tử đã làm trước đó năm thế kỷ, tạo thành tư thế mà người chống đối phải mang vũ khí đến nộp để đúc tượng đồng Tỳ Lô Giá Na.

Chính ngài Nhật Liên khi được rước từ đảo về, cũng trở lại thái độ nhu hòa khiến mọi người ngạc nhiên. Ngài bảo đại chúng rằng nếu ngài tự thấy thành công, thì sẽ thành kẻ tăng thượng mạn, không phải là hành giả Pháp hoa.

Ngài khuyên chúng ta phải cẩn thận, nên truyền bá kinh Pháp hoa trong tư thế nhu hòa, nhẫn nhục. Đừng gây mâu thuẫn, tạo thành thế chống đối, khi thân phận chúng ta còn bất lực trước hoàn cảnh thiên nhiên và những kẻ tàn bạo.

Tóm lại, người đời sau phần nhiều đều áp dụng pháp nhu hòa, nhẫn nhục, tùy theo trường hợp và mức độ tu hành tới đâu thì có kết quả tới đó. Đến độ cao nhất như mặc áo giáp của chư Phật, thì không còn gì để nhẫn nữa, mà mọi loài đều quy ngưỡng.

HT.Thích Trí Quảng

 

Cần những giải pháp hữu hiệu trong quản lý Tăng sự

GN - Vào các ngày 26, 27-6, Ban Tăng sự Trung ương Giáo hội (TƯGH) sẽ tổ chức Hội nghị toàn quốc ngành Tăng sự tại tỉnh Ninh Bình với chủ đề “Quản lý Tăng sự trong giai đoạn hiện nay - thực trạng, thách thức và giải pháp”. Đây được xem là một hoạt động trọng tâm của ngành Tăng sự trong năm 2015 trước nhiều vấn đề nảy sinh trong sinh hoạt và đời sống của Tăng đoàn trước tình hình mới.

HT Thien Phap.jpg
HT.Thích Thiện Pháp

Trao đổi với Giác Ngộ trước Hội nghị, HT.Thích Thiện Pháp, Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS kiêm Trưởng ban Tăng sự TƯGH cho biết:

Có thể nói đây là lần đầu tiên sau hơn 30 năm thành lập Giáo hội, Ban Tăng sự TƯGH mới chính thức triệu tập một hội nghị rộng lớn và quy mô để bàn về các công tác của ngành nhằm tạo cơ duyên cho chư tôn đức Tăng Ni phụ trách được dịp trao đổi, đánh giá một cách toàn diện các vấn đề liên quan đến sinh hoạt Tăng Ni, quản lý tự viện, đàn giới, thu nhận đệ tử…

Ngành Tăng sự được xem là một ngành mũi nhọn và quan trọng trong hệ thống tổ chức Giáo hội, tác động trực tiếp đến đời sống chư Tăng Ni xuất gia, vì thế các hoạt động của ngành cần sự chỉn chu, thường xuyên, liên tục và điều chỉnh phù hợp trước những đổi thay của xã hội về mặt sinh hoạt Tăng đoàn.

Như vậy những vấn đề lớn của ngành Tăng sự đang đặt ra là gì, bạch Hòa thượng?

- Thực ra, ngành Tăng sự luôn phải thực hiện những công việc thường xuyên cho chư Tăng Ni như giới thiệu thuyên chuyển nơi tu học, cấp giấy chứng nhận Tăng Ni, cấp chứng điệp an cư, cấp sổ hạ và nhiều công việc hành chính khác. Tuy nhiên, đời sống Tăng đoàn là một phạm trù mang tính chuyển động mà ở đó những cá thể phải luôn khép mình tạo thành một giá trị lớn lao cho tập thể.

Trong quá trình chuyển động đó nảy sinh khá nhiều hiện tượng cả tốt lẫn xấu mà tại Việt Nam, Phật giáo chúng ta cần sự điều chỉnh cho phù hợp như: Việc tranh chấp giữa tự viện và gia tộc về đất đai khi tài sản đó do vị trụ trì đứng tên cá nhân; Tăng Ni tự phát cất mới cơ sở; việc thành lập cơ sở mới tại khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; Tăng Ni trẻ tự thuyên chuyển nơi tu học hoặc sinh hoạt xa rời Chánh pháp tạo những dư luận không tốt ảnh hưởng đến hình ảnh tu sĩ Phật giáo Việt Nam; vấn đề giả danh tu sĩ Phật giáo khất thực phi pháp và thực hiện những hình thức buôn bán trên đường phố; việc cầu y chỉ sư, thọ giới và tổ chức các đại giới đàn giữa các địa phương…

Vậy hội nghị lần này chúng ta sẽ thảo luận toàn bộ những nội dung vừa nêu?

- Về phương diện tổ chức, Ban Tăng sự TƯGH luôn mong muốn thảo luận sâu sắc từng vấn đề để tìm những giải pháp thích hợp, tuy nhiên mọi thứ còn phụ thuộc vào góp ý của chư tôn giáo phẩm đại diện ngành Tăng sự của các tỉnh, thành trong cả nước. Hơn nữa, thời gian vừa qua vấn đề đời sống Tăng Ni được lưu tâm hơn cả nên chắc chắn các nội dung liên quan đến cầu y chỉ sư, việc tổ chức đại giới đàn, phạm hạnh và tu học Tăng Ni sẽ thu hút sự chú ý của đại biểu và sẽ được thảo luận một cách thấu đáo. Trong đó, đã có khá nhiều phát biểu tại các phiên họp chuẩn bị cho hội nghị liên quan đến sự không thống nhất về thời gian tổ chức đại giới đàn tại các tỉnh, thành cần sự hướng dẫn của Trung ương.

Riêng các hướng dẫn về xuất gia, thọ giới, cầu y chỉ sư dù đã được Trung ương ban hành nhưng thực hiện chưa nghiêm, vài địa phương tình trạng này trở nên phức tạp cũng được nhắc tới nhiều.

Bạch Hòa thượng, có lẽ chưa khi nào hình ảnh Tăng Ni trẻ lại xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng với nhiều biểu hiện tiêu cực như gần đây. Trước hiện tượng đó, ngành Tăng sự đã thể hiện các động thái điều chỉnh của mình như thế nào?

- Ngày nay, khi mà sự bùng nổ thông tin đang diễn ra nhanh chóng và rộng khắp thì bất cứ điều gì cũng có thể được đưa ra công luận. Riêng đối với các biểu hiện của giới Tăng Ni, đặc biệt là các vị xuất gia trẻ, không phải vấn đề nào được đưa lên mặt báo cũng thể hiện sự chuẩn xác thông tin. Ví dụ điển hình nhất là trường hợp vừa diễn ra ở Khánh Hòa, đến nay công an và các cơ quan chức năng vẫn chưa xác định rõ ràng đối tượng nhưng trước đó các phương tiện thông tin đại chúng lại đăng tải sự việc.

Nói như thế không có nghĩa là Giáo hội bảo vệ những hành động không phù hợp với giới luật và thuần phong mỹ tục của các vị tu sĩ trẻ nói riêng và Tăng Ni nói chung. Ngành Tăng sự luôn thể hiện sự nghiêm khắc và có những chỉ đạo kịp thời để giáo dục cũng như sách tấn sự tu học của họ. Đối với những trường hợp nghiêm trọng thì Giáo hội đã từng áp dụng các biện pháp cứng rắn mà cao nhất là tịch thu giấy chứng nhận Tăng Ni, chứng điệp thọ giới và khai trừ khỏi Tăng đoàn.

Hòa thượng mong đợi gì ở hội nghị lần này?

- Không chỉ việc Tăng sự mà tất cả các Phật sự đều cần sức mạnh của Tăng đoàn. Riêng đối ngành Tăng sự, cá nhân phụ trách là những vị giáo phẩm uy tín và nhiều đạo hạnh nên chúng tôi tin tưởng rằng, dù chỉ dành 2 ngày cho hội nghị nhưng chắc chắn sẽ có cái nhìn toàn cảnh về đời sống Tăng Ni ngày nay. Song song đó là những góp ý, phản biện, thảo luận để có biện pháp hữu hiệu cho việc chấn chỉnh những điều không phù hợp, đi sai với tinh thần luật Phật chế, đồng thời phát huy được năng lượng tu học, xương minh Giáo hội.

Xin cảm ơn Hòa thượng!

Hội nghị Ban Tăng sự Trung ương sẽ diễn trong 2 ngày 26, 27-6 tại Phòng họp Quốc tế chùa Bái Đính, Ninh Bình. Theo đó, trong buổi chiều ngày đầu tiên (26-6) sẽ là nghi thức khai mạc với sự tham sự của chư tôn giáo phẩm Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự, Ban Tăng sự của các tỉnh, thành; đại biểu khách mời từ các cơ quan Nhà nước.

Đại diện Ban Tổ chức cho biết, ngay sau lễ khai mạc, vì là việc Tăng sự nên trong các phiên thảo luận và bế mạc của Hội nghị sẽ chỉ có sự tham dự của chư tôn đức Tăng Ni mà không có sự hiện diện khách mời cũng như giới cư sĩ.

Bảo Thiên thực hiện

 

Tinh thần vô trước trong kinh Phật

Tựu trung, tinh thần vô trước của giáo lý Phật giáo giúp ta vươn tới những chân trời thênh thang vô tận và với lòng xả rộng lớn, chúng ta sẽ có được hạnh phúc và an lạc ngay trong cõi đời này, ngay trong chính tâm hồn mình trong từng phút giây tỉnh thức.
 

tinh-than-vo-truoc

 

    Chắc hẳn khi viết ra mẩu tin ngắn đăng trong tạp chí Newsweek, phóng viên Machail Isikoff không ngờ rằng mình sắp gây nên một tai họa lớn khi thống kê sơ bộ cho đến 20 tháng 5 đã có 17 người thiệt mạng và hơn 100 người khác bị thương vì mẩu tin vắn ấy. Ngọn lửa căm phẫn đã bùng lên kéo dài từ Afghanistan, Palestine đến cả Indonesia, Somali mà chưa có dấu hiệu gì hạ nhiệt mặc dù tờ Newsweek đã cải chính là chỉ dựa vào một nguồn tin chưa được kiểm chứng, tiết lộ rằng một quan chức thẩm vấn Mỹ đã quẳng Kinh Coran vào cầu tiêu và xả nước trong khi đang làm nhiệm vụ tại Guantanama. Giờ đây dù có đính chính, dù có thanh minh thì cũng đã trễ vì máu đã đổ, oán thù đang dâng cao. Tại Teheran, Quốc hội Iran đã không chấp nhận lời cải chính của tờ báo. Ngòi viết thiếu cẩn trọng ấy đã trở thành ngòi nổ khi nó khơi dậy tất cả những căm hờn dồn nén bấy lâu của thế giới Hồi giáo đối với Mỹ. Thế nhưng, chúng ta thử hình dung một kịch bản khác: nếu như phóng viên ấy đính chánh rằng không phải quan chức Mỹ quẳng kinh Coran mà là một quyển kinh Phật gì đó thì sao? Chắc hẳn sẽ có những lời phê phán đây đó thậm chí có thể có biểu tình nhưng chắc chắn là không ai đổ máu, không ai chết. Chúng ta hãy nhớ cách đây mấy năm khi Taliban phá hủy tượng Phật, một trong những kỳ quan trong lịch sử nhân loại, thế giới lên án kịch liệt, kêu gọi khẩn thiết nhưng không ai phải đánh nhau với cảnh sát hay xô xát với các tôn giáo khác. Vì sao? Vì chủ trương không dùng bạo lực của Phật giáo hay vì nguyên nhân nào khác?

Thật ra, lý do nằm ngay trong giáo lý nhà Phật: đó là tinh thần vô trước hay phá chấp. Tinh thần không câu chấp, nô lệ vào các hình thức, ngôn ngữ (điều mà hiện nay có lúc có nơi đang cần phải nhắc nhở, huân tập lại). Đó là một tinh thần giải trừ kiến chấp. Một cái học không có học thuyết, một giáo lý không có những giáo điều bất di bất dịch.

Đức Phật là một vị Giáo chủ duy nhất trên thế gian này khuyên tín đồ như đã nói với bộ tộc Kalama ở Kesaputta như vầy:

“Này các Kalama, chớ có tin vì nghe lời thuật lại, chớ có tin vì theo truyền thống, chớ có tin vì nghe những lời đồn. Đừng để bị dẫn dắt bởi uy quyền của kinh điển, bởi luận lý siêu hình, hay bởi những sự xét đoán bề ngoài, đừng để bị lôi cuốn về những gì có vẻ đáng tin, bởi thích thú trong những quan điểm võ đoán, hay bởi ý nghĩ: “Đây là thầy ta…” (Tăng Chi Bộ tập 1, Kinh Các vị ở Kesaputta).

Khi giảng thuyết Nhân Duyên, khi nhận thấy các đệ tử đều đã hiểu, Phật liền nói: “Này các Tỳ-khưu, nếu các người lại để cho mình mắc vào thuyết ấy, nếu các người ưa thích nó, nếu các người mê luyến nó, giữ gìn nó như một kho bảo vật, nghĩa là các người bị buộc ràng vào nó, thì các người đâu có hiểu rằng giáo lý của ta như chiếc bè để đưa qua dòng sông chứ không buộc trói người vào đó.”

Trong kinh Viên Giác, Đức Phật đã từng tuyên bố: “Các lời dạy của khế kinh chẳng khác nào ngón tay chỉ mặt trăng. Nếu ta thấy mặt trăng rồi, có thể biết cái để chỉ mặt trăng không phải là mặt trăng. Tất cả lời nói của Như lai khai thị Bồ tát cũng đều như thế.” Nếu ta nhận lầm ngón tay chỉ mặt trăng là mặt trăng thì chẳng những không nhận thức đúng chánh pháp mà còn gặp chướng ngại trên đường tu tập của mình.

Thế nên, học Phật là phải học cả cái tinh thần “vô trụ vô tướng”, giải thoát khỏi mọi tà kiến, biên kiến, khai phóng tâm hồn khỏi mọi sự nô lệ, định kiến do những ý thức hệ, những tín ngưỡng, những chủ thuyết đạo đức hay kinh tế khác nhau vốn dĩ đã và đang chia rẽ nhân loại, gây nên những tranh chấp triền miên cả trong tư duy lẫn trong cuộc đời thực.

Phật giáo trước hết không phải và không thể là một tàng kinh viện, nơi mà người học Phật chỉ biết trau giồi giáo lý mà phải là nơi thực chứng, huân tập tâm hồn để hình thành một thái độ sống, một triết lý sống tràn trề vô ngại, dung nạp mọi dị biệt, vượt lên trên mọi si mê kiến chấp. Đó là tinh thần Xả vô lượng tâm, buông bỏ, không ôm giữ tri kiến, không vướng mắc vào thành bại, khen chê (trong tiếng Sankrist Upeksa là bình đẳng, nghĩa là không chấp trước phân biệt, xem mọi người mọi pháp, đều như nhau).

“Do có lòng xả mà người học Phật sẽ từ bỏ “sở tri” của mình mà lắng nghe kẻ khác và có thể tiếp nhận những kiến thức đúng đắn mới, hầu có thể thẳng tiến trên đường giác ngộ” (Lược giải những pháp số cơ bản – Hạnh Cơ).

Tựu trung, tinh thần vô trước của giáo lý Phật giáo giúp ta vươn tới những chân trời thênh thang vô tận và với lòng xả rộng lớn, chúng ta sẽ có được hạnh phúc và an lạc ngay trong cõi đời này, ngay trong chính tâm hồn mình trong từng phút giây tỉnh thức.

DUY THỨC | Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo 4

 

Phật Giáo Như Là Một Triết Học Hay Một Tôn Giáo

image
Trước khi xác định Phật Giáo như là một hệ thống tư tưởng triết học (Buddhism as a philosophy) hay như là một tôn giáo (Buddhism as a religion), chúng ta sẽ tìm hiểu triết học là gì? và Phật giáo là gì?

   I . Triết học là gì?

Triết học (philosophy) là một từ có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp cổ đại: philosophia (tiếng phiên âm theo Anh văn), có nghĩa là lòng yêu mến sự hiểu biết. Nói rộng hơn, triết học là những quan niệm, tư tưởng, thái độ của một cá nhân hay một nhóm người siêu việt.

Hai chữ Triết học (哲學) đã xuất hiện ở Trung quốc và Việt Nam từ ngày phong trào văn hoá Âu Tây du nhập vào khoảng cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20. Trước đó, người Trung quốc thường dùng hai chữ Đạo học (道學).

Theo  lối chiết tự trong Hán văn thì chữ Triết ()   gồm có bộ thủ (/) gốc ở chữ thủ ( ) là cánh tay, chữ cân () là cái rìu , với chữ khẩu ()  là cái miệng; cả 3 chữ ấy hội ý lại thì có nghĩa là phân tích để biết. Như vậy, triết học có nghĩa là đi tìm chân lý bằng cách phân tích sự vật.

Ở Ấn độ, các nhà tư tưởng dùng chữ “Anviksiti-vidya” (= khoa học tìm tòi khảo cứu) có nghĩa tương đương với chữ “triết học”. Còn có một danh từ đồng nghĩa là “Tarkacastra” ( = sự hiểu biết căn cứ vào suy luận ). Còn chữ “Darsanas” có nghĩa là quan điểm, cách xem xét của một hệ thống triết học đặc biệt, “Darsanika” (philosopher) là triết gia, là người được nhiều người khác biết đến qua hệ thống triết học của vị đó. Ngày nay người Ấn độ thường dùng chữ “Tattvavidya-castra” (= sách nói về khoa học chân lý) để chỉ chữ triết học.

Chữ Đạo () trong Đạo học là con đường để chỉ dẩn cho con người hiểu được ý nghĩa của cuộc sống ở đời, để thích ứng với cuộc sống, và cũng để cải thiện cuộc sống.

Triết học là một nổ lực nghiên cứu cái căn bản, cái tổng quát của các vấn đề để đi tới chỗ tận cùng, đến chỗ không thể nào tiến thêm được nữa, đến cái nền tảng của vấn đề.

Trong việc nghiên cứu triết học, chúng ta đi tìm chân lý, sự thật của các vấn đề, của các quan niệm về bản chất của sự hiện hữu thực tại, sự tồn tại của tri thức, của luân lý, của lý tính và của mục đích của người đời.

Trong tiếng Việt, có sự phân biệt:

  1. Triết lý  là một thái độ sống của con người trước cuộc đời, như vậy ai cũng có triết lý nghĩa là có một thái độ sống của mình đối với người khác, không người nào có thể tránh khỏi triết lý; tiếng cuộc đời bao gồm hai yếu tố:Triết học là sự học hỏi, sự nghiên cứu về triết lý, sự suy tư, suy nghĩ về triết lý. Do đó, các vấn đề của triết học không thể tách rời khỏi những con người sống trong xã hội.
    1. người đời: con người ở đời với những người khác trong xã hội.
    2. đời người: ý nghĩa của cuộc đời.

Triết học có 3 đặc điểm:

  1. Suy tư triết lý là những suy nghĩ, nghiên cứu về một hệ thống tư tưởng từ một điểm bắt đầu để đi đến kết luận.
  2. Suy tư triết lý là suy nghĩ về một thực tại, một cái gì tồn tại có trước khi ta suy nghĩ về nó.
  3. Suy tư triết lý là một suy nghĩ có ý thức, đòi hỏi phải nhìn trực tiếp vào một vấn đề, một đối tượng với một thái độ phản tỉnh (reflective attitude) tức là chúng ta phải biết xếp đặt các suy nghĩ thành một hệ thống, từ phân tích cho đến tổng hợp. Có ý thức phản tỉnh, chúng ta mới đạt được sự thức tỉnh (awakening), mới đạt được giác ngộ (enlightenment).

Trong cuộc sống hằng ngày, có những chuyện xảy ra khiến chúng ta phản tỉnh. Thí dụ như kinh nghiệm về thất bại, về hoạn nạn là chuyện khiến ta phản tỉnh: ý thức về cuộc đời đau khổ, và suy nghĩ đi tìm nguyên nhân của sự khổ đau đó, hoặc tìm cách diệt cái khổ sở đó, hoặc có những dự định vươn tới những cái tốt đẹp hơn trong tương lai.

Thất bại thường xảy ra trong hoàn cảnh có sự liên hệ giữa một người hay nhiều người với người khác. Thất bại hoặc hoạn nạn có thể có các hình thức sau đây:

  1. Thất bại trên đường học vấn, thi cử: không thể tiếp tục học vì một nguyên nhân nào đó, hoặc thi rớt mặc dầu hết sức cố gắng học tập.
  1. Thất bại trên đường buôn bán, làm ăn lỗ lả, đường công danh sự nghiệp.
  1. Thất bại trên đường tình duyên và gia đạo: bị người yêu hay người phối ngẫu lừa gạt, sang ngang.
  1. Thân thể có khuyết tật vì bẩm sanh hoặc vì tai nạn, bịnh hoạn.
  1. Hoạn nạn trước một biến cố nào đó trong cuộc đời: ví dụ: trước cơn gió lốc của cuộc cờ chính trị hoàn cầu, chính quyền Saigon ở miền Nam Việt Nam đã sụp đổ vào ngày 30 tháng tư năm 1975. Dĩ nhiên những người thuộc phe chiến thắng, phe cọng sản ở miền Bắc Việt Nam, đã rất vui mừng, rất hồ hỡi vì họ chiếm được một kho tàng chiến lợi phẩm to tát ở miền Nam.Nhưng đại đa số đồng bào ở miền Nam đã bước vào một ngỏ rẻ mới mà trước mắt là sự khốn khổ, sự khổ đau so với những ngày bình yên hạnh phúc mà họ đã hưởng được trước đây.

Bên thắng cuộc đã bỏ tù, tịch thâu tài sản, đày đọa người dân bên thua cuộc, đẩy họ đi vào cảnh khốn cùng, khổ sở. Nhiều người đã mất hết tài sản mà họ đã làm lụng cực khổ suốt đời. Nhiều người đã phải lìa bỏ quê hương, lìa bỏ vợ con, lìa bỏ chồng con để đi tìm tự do bằng cách vượt biển hoặc bằng cách đi đường bộ, họ đi tìm cuộc sống tự do trong cái chết. Thẳng thắn mà nói trong cuộc chiến tranh ủy nhiệm ở Việt Nam, nói khác đi, là cuộc chiến tương tàn, nồi da xáo thịt đã kéo dài hơn 30 năm thì gia đình nào từ Bắc chí Nam cũng đều có người thân, có bà con họ hàng, bạn bè hoặc ở phía bên này, hoặc ở phía bên kia. Như vậy thì ai cũng có người thân, có bà con họ hàng, có bạn bè bị đi tù đày dưới chế độ Cọng sản, có người chịu kham khổ, có người đã chết trung ngục tù, hoặc vượt biên, bỏ xứ ra đi và có thể chết trước những cơn sóng to gió lớn ngoài biển cả. Nói tóm lại, đại đa số nhân dân Việt Nam là nạn nhân của chủ nghĩa Cọng sản, của chế độ độc tài tàn bạo, của các nhà lãnh đạo cuồng tín.

Đứng trước sự thất bại, trước hoạn nạn, con người có thể có thái độ, có triết lý về cuộc đời khác nhau:

  1. Chấp nhận: con người cho rằng tại số trời, tại định mệnh đã an bài: “Học tài thi phận”, “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.
  1. Coi như một bài học kinh nghiệm: con người cho rằng thất bại là một kinh nghiệm sống có ý nghĩa nhờ đó mình có thể vươn lên sự thất bại để đi đến sự thành công trong tương lai. Người quân nhân thua trận có thể cho rằng: “can cường trong chiến bại”.
  1. Không thể chịu đựng: con người đăm ra chán đời, thấy cuộc đời là phi lý. Do đó, con người hoặc phản kháng lại cuộc đời, hoặc đi tu, hoặc tự tử, hoặc rời khỏi quê hương đi tìm tự do v.. v..
  1. Đi tìm cái thành công trong sự thất bại: con người cho rằng ý nghĩa của cuộc đời không phải chỉ ở chỗ thành công hay thất bại mà ở nơi sự cố gắng, ở nơi nổ lực phấn đấu và chiến đấu không ngừng: “Đừng lấy thành bại mà luận anh hùng”.

Các thí dụ trên cho thấy rằng triết lý là một thái độ sống gắn liền với con người, triết lý không là một ý niệm vượt khỏi con người. Còn triết học là một nhận thức về ý nghĩa của cuộc đời. Tuy nhiên ở nhiều nơi, triết lý và triết học được sử dụng đồng nghĩa, thí dụ như “ “triết lý Phật giáo = triết học Phật giáo” (Buddhist philosophy), triết lý giáo dục ( philosophy of education) v.v.v.

Nghiên cứu triết học thì đòi hỏi sự học hỏi về các tư tưởng, các quan niệm với sự suy nghỉ hết sức cẩn thận và phán xét về các vấn đề phức tạp ấy. Chúng cần có một số hành trang, một số kiến thức căn bản để học hỏi các lập luận của các triết gia như tìm hiểu những định nghĩa về các từ ngữ mà các triết gia đã sử dụng, những lập luận của họ để bảo vệ quan điểm của họ, cùng với sự phê phán, về các lý luận của chính triết gia đó hoặc sự phê phán của các vị khác về các lý luận, các biện minh của các triết gia này.

Triết học Tây phương đã được phân chia ra nhiều lãnh vực chính như sau:

  1. Siêu hình học (Metaphysics) là tiếng có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ xưa là meta-physica ( meta= bên kia, physica= vật lý, vật hữu hình). Siêu hình học có mục đích khảo sát bản chất căn bản của sự hiện hữu, sự tồn tại (being). Siêu hình học là một trong những tác phẩm triết học của Aristotle (Hy lạp, 384 tr.C.N). Siêu hình học gồm có hai ngành chính là:

 a. Vũ trụ luận (Cosmology) là tiếng có nguồn gốc từ Hy lạp là Kosmos = thế giới, logia= nghiên cứu về. Vũ trụ luận là khoa nghiên cứu về thế giới, vũ trụ để tìm hiểu nguồn gốc, sự tiến hoá, thay đổi trải qua nhiều thế hệ, và số phận của vũ trụ. Việc khảo cứu về vũ trụ đã có một lịch sử lâu dài liên quan đến khoa học, triết học, thuyết bí truyền của một nhóm người, và của một tôn giáo. Vũ trụ luận nghiên cứu các vấn đề chính yếu sau đây: - Vũ trụ vạn vật phát sinh từ đâu.-Tính chất của vũ trụ vạn vật như thế nào: tĩnh hay động, thường hằng hay vô thường,luôn luôn chuyển biến. Vũ trụ vạn vật có khởi thuỷ, có chấm dứt không.

b.Bản thể luận ( Ontology) là khoa nghiên cứu về thực tại, về bản chất của sự tồn tại, sự hiện hữu.

  1. Nhận thức luận (Epistemology) hay tri thức luận có mục đích nghiên cứu về nhận thức hay tri thức (knowledge) và sự phán đoán niềm tin của tri thức . Nhận thức luận nghiên cứu các vấn đề chính yếu sau đây:

a. Nguồn gốc của tri thức, của cái biết.

b. Khả năng và giới hạn của tri thức.

c. Bản chất của tri thức.

d. Biểu chuẩn của chân tri: cái biết thật, biết đúng và nguyên do của lầm lẩn.

  1. Luận lý học (Logic) là môn học có mục đích xác định những động tác của trí tuệ hướng đến sự nhận thức chân lý, xem động tác nào đúng, động tác nào không đúng.Luận lý học giúp ta đi tìm cái chân, cái đúng.
  1. Đạo đức học hay Luân lý luận( Ethicshay Nhân sinh quan (the way of life):

Theo nghĩa rộng, đạo đức học là môn triết học nghiên cứu về những qui luật giúp con người hành động theo một con đường tốt nhất để sống ở đời.

Theo nghĩa hẹp, đạo đức học là hệ thống tư tưởng, hay quy luật về đạo đức của một triết gia, một nhóm người, một tôn giáo. Đạo đức học thường có liên hệ với môn triết lý chính trị (political philosophy) là môn khảo cứu về việc cai trị và mối liên hệ giữa các cá nhân, các gia đình, các nhóm người đối với các cộng đồng xã hội kể cả một quốc gia, một đất nước.

  1. Thẩm mỹ học (aestheticslà môn học nghiên cứu về cái đẹp (beauty) trong các ngành nghệ thuật: văn chương, hội họa, điêu khắc, kiến trúc v.. v.. .Việc phán đoán hay cảm nhận về cái đẹp thì thay đổi theo cá nhân, có tính cách chủ quan, và thay đổi theo không gian và thời gian. Thẩm mỹ học luôn tôn trọng quan niệm về cái đẹp của các trường phái khác nhau. Thẩm mỹ học không đứng về quan niệm này để đả phá quan niệm khác liên hệ đến cái đẹp. Thẩm mỹ học giúp đi tìm cái đẹp, cái mỹ. Chân-Thiện-Mỹ là những mục tiêu mà con người hướng tới.
  1. Triết lý về ngôn ngữ (philosophy of languagelà một môn học khám phá bản chất, nguồn gốc và sự sử dụng của ngôn ngữ.
  1. Triết lý giáo dục (philosophy of education, educational philosophy) là môn học có đối tượng hoặc là lãnh vực học tập của triết học ứng dụng, hoặc là lãnh vực nghiên cứu tư tưởng của một trong các nhà tư tưởng về học thuyết giáo dục của họ, và khảo sát các định nghĩa, mục đích và ý nghĩa của giáo dục trong khoa sư phạm, phương pháp giảng dạy, chính sách giáo dục, chương trình giáo khoa cũng như việc khảo sát tiến trình học tập của học sinh, sinh viên. Nói cách khác, triết lý giáo dục của một quốc gia là một khuôn mẫu cho chính sách giáo dục của quốc gia đó nhằm đào tạo những con người, những công dân trong nước được phát triển một cách toàn diện về khả năng phê phán của trí tuệ và về phẩm giá, tư cách đạo đức để tạo nên con người hữu dụng cho xã hội với một nhân cách rất tốt.

Triết lý giáo dục của chế độ Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam trước 1975 là một triết lý siêu việt lấy nhân bản, dân tộc và khai phóng làm căn bản cho chính sách giáo dục ở miền Nam. Trong bài “Về một nhà giáo dục thời VNCH: GS TS Nguyễn Thanh Liêm, Nhà Văn hóa, Giáo dục, Nhân bản Việt Nam của NVT trong quyển “Kỷ niệm về GS TS Nguyễn Thanh Liêm, Văn Đàn Đồng Tâm xuất bản tại California, USA có đoạn như sau: “Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa : “Thầy Nguyễn Thanh Liêm đã tiếp nối các nhà lãnh đạo gíao dục Miền Nam Việt Nam để phát huy một triết lý giáo dục siêu việt. Tôi xin trích dẫn đoạn văn trình bày cái triết lý giáo dục của VNCH như sau:             

 1. Thứ nhất: Giáo dục Việt Nam là giáo dục nhân bản (humanistic education). Nhân là người hay con người, bản là căn bản. Trong lảnh vực triết lý, thuyết nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong đời sống trên thế gian nầy. Thuyết nhân bản lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con ngừơi trong cuộc đời nầy làm căn bản chớ không nhắm đến linh hồn hay cuộc đời nào khác ngoài thế giới mà loài người đang sống trong đó. Theo thuyết này, con người có giá trị đặc biệt của con người, cao cả hơn tất cả các giống sinh vật khác trên đời này. Chỉ có con người mới có văn hóa, có những hoạt động có suy tư, có sang tạo, làm cho cuộc sống của con người có tiến hóa luôn từ xưa đến giờ. Nhân bản cũng chỉ tính cách linh thiêng của con người khác hơn mọi loài vật khác. “Nhân linh ư vạn vật”và con người phải được tôn trọng bởi tính linh thiêng đó. Con người tự nó là một cứu cánh chứ không phải là một phương tiện. Triết lý nhân bản chấp nhận có những khác biệt giữa các cá nhân nhưng không chấp nhận dùng sự khác biệt đó để đánh giá con người và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo , địa phương, tôn giáo , chủng tộc v…v..v.. Với triết lý nhân bản , con người có giá trị của con người như nhau và mọi người đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

2-Thứ hai: Giáo dục Việt Nam là giáo dục dân tộc (nationalistic education ). Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh anh hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc Việt Nam có mặt trên thế giới này từ bao nhiêu ngàn năm trước. Dân tộc đó có tiếng nói riêng của nó từ bao đời. Dân tộc tính đó trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị tan biến hay tiêu trầm trong những nền văn hoá khác.

3- Thứ ba: Giáo dục Việt Nam là giáo dục khai phóng (liberal education). Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải là bảo thủ, không nhất thiết là phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới , tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội , giá trị văn hoá nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hoá quốc gia xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới  “( Nguyễn Thanh Liêm, “ Giáo dục ở Miền Nam  Tự Do trước 1975 “Đồng Nai Cữu Long xuất bản , Santa Ana  2006, trang 24,25.

  1. Triết học của Tôn giáo (Philosophy of Religion): là sự nghiên cứu có tính triết lý về ý nghĩa và bản chất của tôn giáo; bao gồm những sự phân tích các quan niệm, niềm tin tôn giáo cùng với những điều luật, những lập luận và những điều thực hành của truyền thống tôn giáo. Thường thì triết học tôn giáo giới hạn sự nghiên cứu vào các tôn giáo hữu thần (Theistic religions).Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu gần đây có phạm vi rộng rãi hơn, có tính toàn cầu nên đã nghiên cứu các truyền thống tôn giáo vừa hữu thần vừa không phải là hữu thần (Non- theistic religious traditions). Nhiều công trình nghiên cứu còn mở rộng hơn và có tính đa dạng, có đối tượng   nghiên cứu các tư tưởng gia Đông và Tây cùng với những thuyết lý như thuyết bất khả tri (agnostics) thuyết bi quan và thuyết vô thần nữa.Triết học cuả tôn giáo đi tìm những lãnh vực chính của triết học và các môn liên hệ như thần học (theology) sử học, xã hội học, tâm lý học và các khoa học tự nhiên.

Ở Tây phương, chủ đề chính của môn triết học tôn giáo có trọng tâm giới hạn vào sáu đề mục như sau:

a)     Ngôn ngữ và niềm tin tôn giáo.

b)     Tính đa dạng của tôn giáo.

c)     Quan niệm về Thượng đế / Trời hay thực tại tuyệt đối.

d)     Những tranh luận bảo vệ hoặc chống lại sự hiện hữu cuả Thượng đế.

e)     Những vấn đề liên quan đến tội ác và khổ đau.

f)     Những phép lạ và sự nhiệm mầu của tôn giáo.

  1. Triết Học của Lịch sử (Philosophy of History)

Sử học là môn học nghiên cứu về quá khứ trong tất cả các hình thức của quá khứ. Triết học của lịch sử khảo sát nhiều nền tảng có tính lý thuyết của sự thực hiện, sự áp dụng, các hậu quả xã hội của lịch sử và luôn cả sự biên soạn lịch sử.

Thứ nhất, triết học của lịch sử sử dụng những lý thuyết tốt nhất trong các ngành triết học như Siêu hình học, Nhận thức luận và Đạo đức luận để đưa ra những vấn nạn về bản tánh của quá khứ và làm sao ta hiểu được quá khứ dù cho quá khứ đã xảy ra một cách ngẫu nhiên hoặc quá khứ đã được hướng dẩn bởi vài nguyên tắc nào đó, làm sao giải thích hay diễn tả một cách hay nhất về các biến cố của quá khứ, làm sao giải thích biến cố lịch sử này có liên hệ đến biến cố lịch sử khác, làm sao thẩm định cho đúng lời của các nhân chứng và các chứng cớ.

Thứ hai, vì có liên hệ với các ngành nghiên cứu khác, triết học của lịch sử điều nghiên các vấn đề như là một thành phần cá biệt, sử học chú trọng vào cái cá biệt hơn là cái tổng quát. Các chuyển biến của lịch sử thường do những người thực hiện theo động lực nội tại hơn là những lực thuần tuý bên ngoài. Các đối tượng lịch sử không còn có thể quan sát một cách trực tiếp, nhưng được nghiên cứu một cách gián tiếp bởi những chứng cớ, bằng chứng. Những vấn đề và nhiều sự việc quá khứ phải được nghiên cứu và thảo luận theo tính chất phê phán của triết học.

Nói cách khác, triết học của lịch sử là môn học nghiên cứu các khía cạnh lý thuyết của lịch sử trong hai ý hướng chính: thông thường các nhà nghiên cứu phân biệt ngành phê phán triết học của lịch sử với ngành triết thuyết của lịch sử:

Phê phán triết học của lịch sử (critical philosophy of history) là lãnh vực lý thuyết của các quy luật có tính kinh viện (trường ốc) của lịch sử, đối đầu với các vấn nạn như bản chất của các chứng cớ lịch sử, mức độ có thể xảy ra một cách khách quan của các biến cố lịch sử v.. v.

Triết thuyết của lịch sử (speculative philosophy of history) là một lãnh vực của triết học nêu lên ý nghĩa xảy ra một cách ngẫu nhiên của lịch sử phát triển của con người, của nhân loại.

Vài nhận định có tính cách triết lý của sử học:

  1. Ngày xưa, người Ấn độ ít chú trọng đến lịch sử biên niên, ngay cả việc ghi lại các sự kiện lịch sử theo thời gian cũng không được giữ gìn, họ đã để thất lạc. Người Ấn độ ngày xưa chỉ chú trọng đến nội dung các tư tưởng tôn giáo, các học thuyết mà thôi. Bởi thế nên, các nhà nghiên cứu lịch sử triết học Ấn độ đã gặp khó khăn trong việc xác định niên biểu của các triết gia, các tư tưởng tôn giáo ở trong thời thượng cổ và trung cổ để xác định ảnh hưởng cũng như sự tiến hoá của tư tưởng Ấn độ một cách chính xác. Cố Hoà Thượng Thích Thanh Kiểm đã viết trong lời tựa của quyển “Lược sử Phật giáo Ấn độ” như sau: “Trong khi biên soạn cuốn sử này, chúng tôi đã vấp phải sự khó khăn nhất, đó là vấn đề “niên đại”. Vì các bộ sách dùng để tham khảo, về niên đại xảy ra ở các thời đại, thì mỗi sách nói mỗi khác, chỉ nói phỏng chừng, như “vào khoảng năm ấy, thế kỷ ấy”, vậy nên khó thể mà quyết định được đích xác. Đó thực là một khuyết điểm lớn trong việc chép sử, rất mong độc giả lưu ý.”

(Thích Thanh Kiểm, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Saigon, 1963, tr. 12).

[ Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm (1921- 2000) đã là Chánh Đại Diện kiêm Trụ Trì Chốn Tổ đình Vĩnh Nghiêm cho đến ngà viên tịch (1973 - 2000), chùa Vĩnh Nghiêm là ngôi chùa lớn nhất Saigon. Ngài nguyên là GS TS môn Phật học tại Viện Cao Đẳng Phật Học Saigon và Viện Đại Học Vạn Hạnh (1964 - 1967) ].

Trong khi đó, người Trung Hoa từ thời xa xưa đã chú trọng đến việc ghi chép các sự kiện lịch sử theo thứ tự thời gian. Người ghi chép sử có thể là một người bình thường , hoặc là một vị quan , hay là một nhóm các vị quan ở triều đình phụ trách .

Vào đời Vua Hán Võ Đế (156 tr. CN – 87 tr. CN) thuộc nhà Tây Hán ( 202 tr. CN – 9 sau CN) có quan Thái Sử Tư Mã Thiên (145 tr. CN – 86 tr. CN) đã hoàn thành bộ “Sử Ký” vào năm 97 tr. CN, lúc ấy ông giữ chức Trung Thư Mệnh. Thật ra bộ sử này do Tư Mã Đàm cùng với con là Tư Mã Thiên cùng biên soạn, sách có tên là “Thái Sử Công Thư”, người đời  gọi tắt là “Sử Ký”, ngày nay thường gọi là lịch sử.  “Sử Ký - Tư Mã Thiên” là một công trình ghi chép việc toàn quốc nước Tàu từ đời Hoàng đế ( khoảng 2698 tr. CN) đến đời Hán Vũ đế ( 156 tr. CN – 87 tr. CN), một lịch sử kéo dài gần 2000 năm. “Sử Ký- Tư Mã Thiên” là một công trình ghi chép rất to tát, phương pháp chép sử cho đến ngày nay, từ Đông sang Tây, đều cho là rất có giá trị. Sách Sử Ký này không những chỉ ghi chép các sự kiện lịch sử xảy ra , các hành vi của Vua Chúa mà còn ghi chép cả các ngành văn hoá như triết học, văn học , lể nhạc …Tư Mã Thiên còn đưa ra những nhận định của ông về các chuyện đã xảy ra theo quan điểm đức lý của Khổng Mạnh.

Vào đời Đường (618 - 907), việc ghi chép sử được giao cho một nhóm người cùng góp sức biên soạn như các bộ sử : Tấn, Tống, Tề, Lương, Tần, Ngụy, Chu, Tề. Kể từ đây , việc chép chính sử được giao cho một nhóm người như là một thông lệ.

  1. Có những sự kiện lịch sử được tái diễn trở lại :

-  Vào năm 1279, Hốt Tất Liệt (Khubilai Khan - 1215- 1294) là cháu nội của Thành Cát Tư Hản (Chinghis Khan – 1162 - 1227) đã đem quân Mông Cổ đánh bại nhà Nam Tống (1127 - 1279), thống nhất Trung quốc, thành lập triều Nguyên , đóng đô ở Yên Kinh (tức Bắc Bình) , thống trị một vùng đất rộng lớn gồm nội địa nước Tàu, Mãn Châu, Mông Cổ, Tây Tạng, Trung bộ Á -tế-á, Cao ly, Giao Chỉ.

Quân Mông Cổ rất hiếu chiến, võ nghệ cao cường nhát là việc cởi ngựa để giao chiến rất giỏi. Nhưng văn hoá người Mông Cổ rất thấp kém so với nền văn hóa của người Hán. Cho nên người Mông Cổ, trong thời gian trị vì nước Tàu từ năm 1279 đến năm 1368, đã chịu ảnh hưởng văn hóa Hán tộc ở nhiều mặt như: xã hội, giáo dục, tư tưởng, văn nghệ, kinh tế v..v..Văn hóa Hán tộc đã cải tạo người Mông Cổ, đã giúp họ văn minh hơn và không còn thuần tuý giữ tính háo chiến của giống dân du mục lúc mới chiếm nước Tàu.

Trong lịch sử cận đại của Việt Nam, vào ngày 30 tháng năm 1975, chính quyền VNCH Saigon bị sụp đổ, chính quyền Cộng sản Hà nội thắng trận và thống trị cả nước từ lúc đó. Tương tự như việc văn hóa Hán tộc đã ảnh hưởng người Mông Cổ, văn hóa miền Nam VNCH, bên thua cuộc, cao hơn văn hóa miền Bắc XHCN, cho nên sau khoảng 40 năm cai trị miền Nam, người miền Bắc đã chịu ảnh hưởng của văn hóa miền Nam ở nhiều phương diện như cách ăn mặc, văn nghệ , kinh tế v..v.., mặc dầu ngay từ những ngày đầu mới chiếm chính quyền Saigon, bên thắng cuộc đã đốt hết sách vở của miền Nam nhằm mục đích xóa sạch nền văn hóa phương Nam. Có thể đây sẽ là đề tài của nhiều luận văn cho các nhà nghiên cứu sử học.

Cần phân biệt “triết học của lịch sử” (philosophy of history) với “lịch sử của triết học” (history of philosophy). Lịch sử triết học là các tư tưởng triết học trải qua thời gian : thời thượng cổ, thời trung cổ, thời cận đại, thời hiện đại. Thí dụ: “Lịch sử triết học Tây phương”,”Lịch sử triết học Đông phương”, “Lịch sử triết học Ấn độ”, “Lịch sử triết học Trung quốc”, “Lịch sử triết học Phật giáo” v.. v...

10. Triết lý chính trị (political philosophy): là môn khảo cứu về việc cai trị và mối liên hệ giữa các cá nhân, các gia đình, các nhóm người đối với các cộng đồng xã hội kể cả một quốc gia, một đất nước.

Trong triết học Trung Hoa, tư tưởng triết lý chánh trị có một địa vị quan trọng. Kẻ sĩ là người có sứ mạng trị dân, trị nước, nên các triết gia thường đưa ra nhiều lý luận chính trị với nhiều giải pháp cứu dân, cứu nước trước cơn loạn lạc, binh biến.

Các nhà Nho thường muốn nhập thế, làm chính trị: trị dân, trị nước với ước mơ đất nước được thái bình, thịnh trị như dưới thời các vua Nghiêu, vua Thuấn v… v...Triết lý chính trị căn bản của Nho giáo là: “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.

Khổng Tử (551-479 tr. CN) đã dạy rằng: “Vua phải làm tròn bổn phận của vua, rồi bề tôi mới làm tròn bổn phận của bề tôi, dân mới làm tròn bổn phận của dân”. Triết lý đạo đức chính trị này đã được giảng dạy và nhồi nhét vào đầu óc kẻ sĩ, người dân Trung Hoa trong suốt khoảng trên 2000 năm, kể từ đời Hán (206 tr.CN - 219 sau CN) tới đời Thanh (1644 - 1911). Trong lịch sử Trung Hoa, ta thấy lời dạy của Khổng Tử chỉ được áp dụng có một chiều: kẻ dưới, thứ dân thì bắt buộc phải làm tròn bổn phận của họ chứ người trên có bao giờ làm tròn bổn phận của họ đâu: hầu hết các ông Vua đều say mê tửu sắc, dâm loạn, tàn ác, hại dân, hại nước và ngu xuẩn. Thành thử đa số nhân dân vẫn sống trong cảnh lầm than; những lời nói nhân ái, lo cho dân chỉ là những tiếng ở đầu môi chót lưỡi của người trên. Bởi thế nên, các triết gia Trung Hoa ở vào thời nào họ cũng muốn đặt lại vấn đề, cũng muốn xét lại việc trị nước để nhân dân bớt khổ hơn, họ đưa ra một triết lý chính trị, một giải pháp chính trị mới cho việc trị nước, cứu dân.

11. Triết học của luật pháp (Philosophy of law) là một ngành của triết học và luật học (jurisprudence) nhằm nghiên cứu những câu hỏi căn bản về luật pháp và những hệ thống pháp luật như: Luật pháp là gì?; Các tiêu chuẩn của hiệu lực của pháp lý là gì?; mối tương quan giữa luật pháp và đạo đức là gì?; nền tảng đạo đức của các bộ luật? ...

Dĩ nhiên, triết học còn có nhiều lãnh vực, nhiều ngành khác nữa mà chúng ta không liệt kê hết ở đây.

Nói tóm lại, triết học là một ngọn hải đăng để soi sáng và làm nền tảng cho tất cả mọi môn học.

I I. Phật giáo là gì?

Phật giáo truyền vào Việt Nam ở cuối thế kỷ thứ nhất sang đầu thế kỷ thứ hai của Tây lịch. Phật giáo truyền vào nước ta bằng hai đường: một là từ Ấn độ truyền trực tiếp vào bằng đường biển do các thương nhân và tăng sĩ Ấn độ; hai là bằng đường bộ từ Trung Quốc. Cách phiên âm chữ Phạn “buddh” còn để lại hai cách như sau: lối phiên âm trực tiếp từ Ấn độ đọc là Bụt (Buddh), ở miền quê xứ Bắc Việt Nam thường phát âm theo lối này; cách phát âm từ chữ Hán Việt truyền từ ngõ Trung quốc đọc là Phật (Buddh).”

       Nguyễn vĩnh Thượng, Tư tưởng Phật giáo trong văn học đời Lý, Hiện Đại: 1996, Toronto, Canada.

Phật () là âm Việt-Hán, do người Trung Hoa phiên âm từ chữ Phạn Buddh.                  

Phật giáo (佛教) là những niềm tin và thực hành căn cứ vào những lời dạy của Đức Phật .

Phật (Buddh, Anh văn: Buddha) có nghĩa là bậc đã giác ngộ (the awakened one or the enlightened one). Phật, hay Giác giả hay Thế Tôn là danh hiệu tôn xưng (the reverend title, very respected  title) về đức độ của  Phật . Ngài là một con người lịch sử (the historical person) đã khám phá con đường giải thoát (the path to nirvana) cách chấm dứt khổ đau (the cessation of suffering) và truyền bá những khám phá nầy cho nhân loại để họ cũng có thể đạt được sự giải thoát.

Phật còn có một danh hiệu khác là Thích-Ca Mâu-Ni (Shakya –Muni) có nghĩa là bậc trí tuệ (Muni) trong bộ tộc Thích-Ca ( Shakya)

    Ngài có tên chính là Cù-Đàm Tất-Đạt-Đa (Siddharta Gantama) nên còn gọi là Phật Cù-Đàm (Gautama Buddha)

    Ngài là bậc giác giả đã khai sáng ra đạo Phật. Đức Phật đã sanh sống và thuyết giảng giáo lý của Ngài ở miền Đông -Bắc Ấn Độ. Phật giáo (Buddhism) là những niềm tin và thực hành căn cứ trên những lời giảng dạy của Ngài.

     Siddhartha Gautama (Cù-Đàm Tất -Đạt -Đa) ra đời vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước Tây lịch (khoảng 624 trước C.N-544 trước C.N ) ở vùng Đông -Bắc xứ Ấn Độ và xứ Nepal. Cuộc đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sẽ được trình bày trong bài “Cuộc đời của Đức Phật”.

      Vào khoảng thập niên 1950 và 1960 ở Bắc Mỹ ( Hoa kỳ và Canada) Âu châu , Úc châu , từ Buddhism (Phật giáo)nhãy còn xa lạ với đại chúng. Tuy nhiên, trước đây rất lâu, các học giả, các giáo sư tây phương đã trước tác nhiều tác phẩm khảo cứu Phật giáo rất có giá trị, và nhiều bản dịch các kinh điển nhà Phật ra các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, giúp cho các nhà khảo cứu tư tưởng triết học Phật giáo không thông thạo Sanscrit và Pali. Đã có nhiều tín chỉ (course) về triết học Đông phương, trong đó có triết học Phật giáo được giảng dạy ở các đại học Âu Mỹ.

     Có rất nhiều học giả và giáo sư đại học Tây phương đã có những đóng góp to lớn cho việc truyền bá tư tưởng triết học Phật giáo như:

- Edward Joseph Thomas (Anh, 1869-1958) với tác phẩm “The History of Buddhist Thought, 1933” (Lịch sử tư tưởng Phật giáo)…

 - Louis de La Vallee- Poussin (Bỉ, 1869-1938) với “L’ Abhidharmakosa de Vasubandhu (1923-1931) (A-Tì- Đạt-Ma- Câu-Xá luận của Ngài Vasubandhu) … 

- Christmas Humphreys (Anh, 1901-1983) với  “Buddhism ,1951”( Phật giáo )  …

- Edward Conze (Anh, 1904-1979) với “Buddhism, Its Essence and Development, 1951” ( Tinh hoa và sự phát triển của Phật giáo) …

- Daisetz Teitaro Suzuki (Nhật, 1870-1966) với “Essays in Zen Buddhism, 1949” (Thiền Luận) …

- Allan Watts (Anh, 1915-1973) với “The Way of Zen, 1957” (Thiền Đạo) …

Walpola Palula (Sri Lanka, 1907-1997) với “What the Bhuda taught” (Đức Phật đã dạy những điều gì) …

-Triết gia Arthur Schopenhauver (Đức, 1788-1860) là một triết gia Tây phương đầu tiên đã chú tâm nghiên cứu Phật giáo, và còn nhiều vị khác nữa…

Về phía đại chúng thì ngày nay ở Tây phương , từ ngữ “Buddhism” được thấy đề cập trong các buổi đối thoại bình thường , trên đài truyền hình, nhiều tiệm sách đã bày bán các sách Phật giáo. Đạo Phật đã trở thành một phần của văn hoá của Tây phương. Nhất là sau cuộc chiến tranh ở Việt Nam, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, với làn sóng tị nạn và di dân của người Á châu (Việt, Miên, Lào, Trung hoa),  các người di dân nầy đã mang văn hóa Phật giáo đến vùng đất mới, họ xây dựng nhiều chùa, nhiều niệm Phật đường, thế hệ di dân thứ nhất thường qui tụ lại thờ kính Phật theo văn hoá từng dân tộc (ethnic group).

Nhiều vị tăng sĩ Á châu và giáo đoàn của các vị tăng nầy đã được người Tây phương biết đến như:

2.1- Ngài Tenzin Gyatsa (1935 -   ) là vị Dalai Lama thứ 14 của Phật giáoTây Tạng (Tibetan Buddhism):

Tương truyền, Phật giáo đã được du nhập vô Tây Tạng vào thế kỷ thứ 3 sau CN.  Nhưng theo sử liệu thì Phật giáo đã chính thức thâm nhập vô Tây Tạng vào thế kỷ thứ 7 CN, dưới thời Vua Songtsen Gampo, trị vị từ năm 605-650 CN. Vua này có 2 bà vợ: một là công chúa Bhrikuti Devi xứ Népal, hai là công chúa Văn Thành, cháu gái vua Đường thái Tông (635-638) xứ Trung Hoa. Cả hai bà đều rất mộ đạo Phật, nên họ đã khẩn cầu nhà Vua cho Phật giáo thâm nhập vào xứ Tây Tạng. Trong lịch sử phát triển đạo Phật ở Trung Hoa và ở Việt Nam, phụ nữ là những người hộ pháp nhiệt thành và đắc lực nhất, nhờ lòng mộ đạo nhiệt thành của họ nên rất nhiều chùa chiền Phật giáo đã được xây cất không những có kiến trúc hoành tráng mà số lượng còn hơn các Văn Thánh miếu của Khổng giáo nữa.

Vào hậu bán thế kỷ 14 sang đầu thế kỷ 15, Đại sư Tsongkhapa (1359 – 1419), vị lãnh đạo tôn giáo tối cao, đã canh tân Phật giáo Tây Tạng, còn gọi là Lạt-Ma giáo, đây là quốc giáo của Tây Tạng. Lạt-Ma giáo được truyền vào phía Bắc Trung Hoa, Mông Cổ từ đời Minh (1368-1644). Kể từ năm 1575, Đại sư Tsongkhapa đặt ra hai vị lãnh đạo tối cao cho Lạt-Ma giáo là: 1. Dalai Lama (Đạt-lai Lạt-ma) có  nghĩa là  vị  Lama có  tâm  hồn bao la như  biển cả,( Dalai= biển cả , ocean), ( Lama = tối thượng sư, vị  sư sống đời độc thân (celebrate priest). Vị này ngự tại Giáo đền ở Lhasa để hành xử thế quyền, được coi như là hoá thân của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát (re-incarnation of Avolokitesvara). Sau khi Dalai Lama chết thì Panchen Lama (Ban-thiền Lạt – Ma) tìm người thay thế trong số các trẻ em vừa mới sanh sau cái chết của Dalai Lama vì họ tin rằng đó là hoá thân của vị Dalai lama này, và ngược lại . Vị Dalai Lama thứ nhất là Gedun Drupa (1391 – 1474).   2. Panchen Lama (Ban-thiền Lạt –ma) có nghĩa là đại học giả ( great scholar), vị này chủ quản đời sống tâm linh, nắm giữ thần quyền, được coi như là hoá thân của Đức Phật A-di-đà (Amitabha Buddha).

Năm 1910, nhà Thanh đem quân xâm chiếm Tây Tạng. Tuy nhiên năm sau thì nhà Thanh sụp đổ, nhân đó vị Dalai Lama thứ 13 Thupten Gyatso (1876 – 1933 ) , đã trị vì từ 1895, tuyên bố độc lập cho đất nước Tây Tạng, đuổi quân đội ngoại xâm nhà Thanh ra khỏi xứ. Tây Tạng hưởng được độc lập thực sự từ 1912 đến 1950.

                                                    (Nguồn: internet)

Vị Dalai Lama thứ 14 Tenzin Gyatso (1935-  ) lên thay thế. Năm 1949, Mao trạch Đông chiến thắng ở Trung quốc, Mao cho quân tái chiếm Tây Tạng. Năm 1950, chánh phủ Tây Tạng tôn vinh Đức Dalai Lama thứ 14 làm nhà lãnh đạo xứ Tây Tạng, lúc ấy Ngài được 15 tuổi. Suốt thập niên 1950, Mao đã dần dần áp đặt chủ nghĩa xã hội trên đất Tây Tạng. Vào ngày 10 tháng 3 năm 1959, Dalai Lama thứ 14, lúc ấy Ngài được 23 tuổi, đã gỉa dạng thường dân và đã cùng với một số ít người tùy tùng trốn qua Ấn độ. Từ đó Ngài sống cuộc đời lưu vong và chưa bao giờ có cơ hội trở lại quê hương của mình. Tại hải ngoại, Ngài đi bôn ba khắp nơi để vận động giành độc lập cho Tây Tạng. Đức Dalai Lama đã đem đến cho phong trào tranh đấu Phật giáo thế giới một đức lý xã hội của Phật giáo dấn thân ( Social Ethics of Engaged Buddhism).

Năm 1988, Đức Dalai Lama tuyên đọc “Gỉải Pháp Trung Dung” (Middle Way Approach) để giải quyết cuộc tranh chấp giữa Trung quốc và Tây Tạng tại Quốc Hội Liên Bang Âu Châu (European Parliament) ở  Strasbourg, Pháp quốc. “Giải Pháp Trung Dung” được Ngài lấy từ “Bài thuyết pháp đầu tiên” của Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni cho 5 người đệ tử đầu tiên của Ngài.Con đường trung đạo là con đường ở giữa hai cực đoan: một là lối tu khổ hạnh (asceticism), hai là cuộc sống tự thoả mản trong dục lạc (self indulgence). Quý vị có thể đọc diển văn chính trị nầy một cách chi tiết hơn ở www.dalailama.com/messages/middleway-approach,accessed Jan.30,2013.Theo “giải pháp trung dung” của Ngài, thay vì Tây Tạng đòi độc lập hoàn toàn từ Trung Quốc thì giờ đây: Tây Tạng muốn được tự do về các việc nội trị như tôn giáo, văn hoá , giáo dục,  kinh tế , y tế và môi trường qua một chính phủ được dân bầu một cách dân chủ; còn Trung Quốc thì lo việc ngoại trị: ngoại giao và quốc phòng. Theo Ngài Dalai Lama , với giải pháp trung dung , thì cả Trung Quốc và Tây Tạng đều được hưởng lợi ích chung.

Nhưng tiếc thay, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không để ý tới “Giải pháp trung dung” của Ngài Dalai Lama. Càng ngày Trung Quốc càng vi phạm nhân quyền, và đã đàn áp nhiều cuộc phản kháng bất bạo động ở Tây Tạng. Ở hải ngoại,  Dalai Lama tiếp tục đi bôn ba vận động sự ủng hộ cho Tây Tạng ở khắp nơi. Cộng đồng các quốc gia tự do dân chủ ở Âu Châu, Bắc Mỹ, Úc Châu đều ủng hộ lời kêu gọi của Ngài.

Năm 1989, Ngài được trao giải thưởng Nobel về hoà bình (Nobel Peace Prize). Năm 2007, Ngài được trao huy chương vàng của Ngành Lập Pháp Hoa kỳ (U.S Congressional Gold Medal).

    Đức độ đáng tôn kính của Đức Dalai Lama thứ 14 đã được cả thế giới khâm phục, từ các vị lãnh đạo các nước dân chủ cho đến mọi người dân ở Bắc Mỹ/ Hoa kỳ và Canada, Anh, Pháp, Đức, Úc …, nên có rất nhiều người đã cải đạo sang Phật giáo Tây Tạng, hay Lạt-Ma giáo, rất đông.

* * *

2.2 - Thích Thiên Ân  (Việt Nam ,1926-1980) với “Zen Philosophy, Zen Practice,1980” ( Triết học Thiền và Thiền thực tập) …

2.3 - Thích Nhất Hạnh (Việt Nam 1926--) với “The heart of the Buddha‘s Teaching ,1999” ( Trọng tâm các lời Phật dạy ) ...

2.4 - Ở Tây phương ngày nay, có nhiều tác phẩm có tính cách đại chúng viết về Phật giáo như sau:

-       The light of Asia ,1879, poem by Edwin Arnold ( Anh, 1832-1904)

-       Buddha, Manga series từ1972 đến1983 by Osamu Tezuka .

-       Shiddharta (Tiểu thuyết của Hermann Hesses viết bằng tiếng Đức, 1922) . Tiểu thuyết này được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó có bản dịch tiếng Việt rất nổi tiếng “Câu chuyện của dòng sông” do Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch, Saigon 1966. Phùng Khánh , sau nầy xuất gia là Sư cô Thích nữ Trí Hải , đã viết và dịch thuật nhiều sách Phật học rất có giá trị, đã viên tịch ở Việt nam .

-       Phim ảnh: - Little Buddha, 1994 film by Bernado Bentolucci.

-       Truyền hình: - Buddha ( T.V series 2013, mythological drama ).

-      Nhạc – Keiruna Nadee, 2010 Oratario by Dinesh Subasingle .V…V…

*    *   *

Cách đây trên 2500 năm, ở Đông phương, đạo Phật phát xuất từ Ấn Độ, đã truyền bá sang nhiều xứ khác như Népal, Tây Tạng, Sri Lanka,Thái lan, Miến Điện, Miên, Lào, Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam v...v… Tư tưởng triết học Phật giáo đã ảnh hưởng sâu đậm vào các lãnh vực văn học, nhân sinh quan, âm nhạc, kiến trúc v... v… của các xứ này.

*  * *

Nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo thường đưa lên câu hỏi: “Phật giáo là một tôn giáo hay là một triết học?” (Is Buddhism a religion or a philosophy?).

Chúng ta sẽ trả lời câu hỏi trên lần lượt như sau:

  1. Phật giáo như là một tôn giáo :

Nếu hiểu tôn giáo hay đạo (religion) là niềm tin tuyệt đối vào Thượng đế (God), là đấng sáng tạo (creator) ra vũ trụ, và có nhiều quyền lực toàn năng để người theo đạo đó tôn thờ thì ở Tây phương có các đạo như Đạo Thiên Chúa (Catholicism), Đạo Cơ Đốc (Christianity), Đạo Do Thái (Judaism), Đạo Hồi (Islam). Các đạo này là đạo thờ có một Thần hay gọi là các tôn giáo độc thần (monotheistic religions). Còn ở Ấn Độ thì có Ấn Độ giáo (Hinduism) thờ nhiều thần hay đạo đa thần (polytheistic religion). Như vậy Phật giáo không được coi là một tôn giáo, bởi vì:

-       Phật giáo không tin có Thượng đế (God), không tin có Đấng Sáng Tạo (creator) ra vũ trụ và kiểm soát số phận định mệnh của nhân loại.

Đức Phật là một con người lịch sử (historical person). Ngài không bao giờ tự xưng mình là Thượng đế, không bao giờ tự xưng mình là Đấng Sáng Tạo ra vũ trụ.

Phật giáo không chấp nhận ở đức tin mù quáng và tuyệt đối. Phật giáo khuyên mọi người đừng thụ động chấp nhận những điều gì bạn đã đọc hay nghe, và cũng đừng tự động phản đối các điều đó ngay. Người nghiên cứu đạo Phật cũng như người Phật tử cần phải dùng trí tuệ của mình để phán đoán các điều ấy.

Đức Phật đã từng dạy:

Đừng chấp nhận bất cứ ta nói một cách thụ động và dể dàng bởi vì đó là lời ta nói ra, bởi vì đệ tử kính trọng ta, nhưng đệ tử phải suy xét, phán đoán các điều ấy. Sau khi khảo sát các lời dạy của ta, nếu đệ tử thấy đó là điều đúng thì mới thực hành, còn nếu không đúng thì đừng nghe và làm theo.”

Nếu hiểu tôn giáo là niềm tin vào đạo lý và sự thực hành các nghi lể, tục lệ và tổ chức của một nhóm người, của một tổ chức thì Phật giáo là một tôn giáo cũng như các tôn giáo khác như đạo Thiên Chúa, đạo Do Thái, đạo Hồi , Ấn Độ giáo v...v…

  1.  Phật giáo như là một Triết học:

  Nghiên cứu triết học nhằm giúp ta phán đoán và đi tìm chân lý, đi tìm sự thật. Điều nầy không có nghĩa là lúc nào ta cũng tìm được sự thật, nhưng có điều chắc chắn rằng mục đích của chúng ta là đi tìm sự thật.

Nói cách khác, nếu hiểu triết học là sự yêu mến trí tuệ giác ngộ thì Phật giáo là một triết học, bởi vì Phật giáo đã: - hướng dẩn ta nhận thức sáng suốt về các hành động và tư tưởng của ta; giúp ta phát triển trí tuệ giác ngộ, sự hiểu biết chân lý.

Ở trong quyển Anguttara Nikaya (Tăng nhất tập) có đoạn ghi lời Đức Phật như sau: “Đừng tin tưởng những điều gì dựa vào tập quán, những bài văn viết lưu truyền lại. Đừng tin những gì được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Đừng tin tưởng những điều gì do các bậc thánh nhân, giáo chủ nói lại. Ngay cả đừng tin tưởng vào những điều mà thầy học của mình, tôn sư của mình nóí ra.  Điều quan trọng là chúng ta phải kiểm nghiệm những lời nói, những điều do các bậc nêu trên dạy, ta phải nhận rõ đâu là chỗ đúng, đâu là chỗ sai, đâu là điều có lợi cho mình, cho kẻ khác. Các đệ tử hãy lấy đó làm tiêu chuẩn sống ở trong cuộc đời nầy.”

Lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng như của các nhà tư tưởng Phật giáo sau nầy đều chú trọng đến sự khảo sát nghiên cứu điều gì cũng hết sức kỹ lưỡng, hợp lý. Đây chính là những điều cơ bản của các triết gia Tây phương, triết gia Ấn Độ làm nền tảng cho các lý luận của mình. Như vậy, Phật giáo được coi như là một triết học, do đó Đức Phật được kính trọng như là một triết gia lớn(the Great Philosopher)/ một nhà tư tưởng lớn (the Great thinker). Triết gia là người theo đuổi chân lý (Philosopher goes in pursuit of truth) đã khám phá được chân lý và truyền bá chân lý nầy cho người khác.

Để nghiên cứu Phật giáo như là một triết học, chúng ta sẽ nghiên cứu các tư tưởng tôn giáo có trước khi Đức Phật ra đời và có cùng thời với Đức Phật, các lời dạy của Đức Phật, các lý thuyết triết học và các lý luận của các luận sư Phật giáo sau ngày Đức Phật nhập Niết bàn. Như vậy, chúng ta sẽ không đi sâu vào việc tìm hiểu các giới luật của tăng đoàn (Buddhist monastic order of Sangha) gồm có Tăng và Ni. Chúng ta cũng không đi sâu vào các bài viết có tính đại chúng (popular writing) nhằm soạn giảng các bài học luân lý cho các thính giả bình thường. Dĩ nhiên, chúng ta sẽ không tìm hiểu các kiến trúc, điêu khắc, tranh vẽ Phật giáo ở đây.Các điều nầy đã được trình bày trong các bài viết hay trong các sách khác. Chúng ta sẽ tìm hiểu lời dạy của Đức Phật và sự khai triển lời dạy nầy bởi các luận gia Phật giáo.Những phán đoán thuần lý và lý luận của các vị nầy, những kết luận về quan điểm của họ. Từ đó, chúng ta sẽ nhận rõ chân lý của lời Phật dạy.

Trong lời dạy của Đức Phật mà các nhà tư tưởng Phật giáo thường dựa vào quan niệm về thế giới tự nhiên thì có điểm không đúng với khoa học tự nhiên ngày nay. Thí dụ như quan niệm các vật thể thông thường như đá, bàn ghế đều do bốn nguyên tử khác nhau cấu thành: đất, không khí, nước và lửa (earth, air, water, fire). Trong triết học cổ đại của Hy Lạp cũng có quan niệm tương tự.Các triết gia ngày xưa , gọi nước là một yếu tố, họ đã nghĩ rằng chỉ có một chất căn bản là chất lỏng. Ngày nay, có sự phân biệt giữa nước (H2O) với rượu, ethyl ( ethyl alcohol) trong hai loại nầy có yếu tố lửa (fire element) ở mức độ khác nhau. Hơn nữa, vật chất được cấu tạo bởi nhiều yếu tố hơn là 4 yếu tố trên. Ngay cả yếu tố màu sắc (color) cũng không do 4 yếu tố trên cấu thành.

Như vậy, triết lý Phật giáo có bị lổi thời trước quan niệm của khoa học về thế giới tự nhiên hay không?

Tôi xin trả lời rằng triết lý Phật giáo vẫn là tư tưởng đáng tôn trọng. Thật vậy, khi nghiên cứu triết học cổ đại của Hy Lạp, triết gia Aristotle (Hy Lạp 384 Công nguyên -322 CN) tin rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ (the earth is the center of the universe ). Ngày nay, chúng ta biết điều nầy là sai lầm, nhưng Aristotle vẫn được tôn trọng là một triết gia quan trọng trong lịch sử triết học Tây phương. Trong việc nghiên cứu triết học cổ đại, chúng ta sẽ bỏ qua những phần trái với kiến thức khoa học hiện đại và chúng ta sẽ chú trọng vào các phần còn lại.

Khi nghiên cứu “Phật giáo như là một triết học”, chúng ta sẽ nghiên cứu các lãnh vực triết học chính yếu của Phật giáo như sau: -Vũ trụ luận, Nhận Thức luận, Nhân minh luận hay luận lý học, Luân lý luận hay Đạo đức học, Giải thoát luận hay con đường giải thoát của đạo Phật.

Chúng ta thấy có nhiều nơi sử dụng danh từ “Phật giáo” và “Phật học” (Buddhist studies) gần như đồng nghĩa. Tuy nhiên hai danh từ này có chổ phân biệt tế nhị: - Phật giáo ý chỉ yếu tố tôn giáo của đạo Phật, còn Phật học ý chỉ yếu tố triết học, sự nghiên cứu về đạo Phật, về học thuyết của đạo Phật.

*    *    *

Trong suốt 45 năm thuyết pháp, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã không viết một chữ nào về các lời giảng dạy của Ngài. Tương tự như vậy, các Triết gia Trung Hoa sống đồng thời với Thích Ca như Khổng tử, Lảo tử cũng đã không để lại một chữ viết nào về các lời dạy của các Ngài. Lời dạy của Thích Ca được truyền khẩu qua nhiều thế hệ. Khoảng 500 năm sau ngày Đức Phật nhập Niết Bàn thì Giáo đoàn (Sangha) mới bắt đầu tập hợp lại các lời dạy của Ngài, và ghi lại các lời dạy này trong các cuốn Phật kinh (Sutra) căn cứ vào ký ức của các bậc trưởng thượng. Những lời nói trong kinh văn có nhiều nơi khó hiểu, đôi khi hầu như không thể hiểu được vì các bản văn ghi lại quá giản lược, và chỉ trở nên dể hiểu, chỉ trở nên một tư tưởng triết học thâm sâu nhờ sự soi sáng bằng các bài bình giảng văn chương, các bài nghị luận triết học của các bậc học giả có trí tuệ, các vị này còn tìm hiểu và khai phá những ý tưởng thăng trầm ẩn tàng trong các kinh điển ấy.

Đạo Phật không lưu lại một kinh điển do chính Thích Ca Mâu Ni viết bằng một văn tự nào; đây có thể là một ưu điểm, và có thể là một may mắn cho tư tưởng Phật giáo. Điều này giúp cho tư tưởng Phật giáo không bị dính chặt vào văn tự, nhờ thế các nhà diễn giải, các luận sư  đã làm rực rỡ, và đã điểm tô Triết học Phật giáo thành rừng Triết học đầy kỳ hoa dị thảo. Do đó, khi nghiên cứu tư tưởng Phật giáo, người học Phật cần đem sự hiểu biết, trí tuệ của mình để có thể thấu hiểu cái triết lý thâm sâu và siêu việt này.

Đạo Phật lúc mới đầu là một triết học, nhưng dần dần dân tộc Ấn độ biến đạo Phật thành một tôn giáo. Rồi tôn giáo này được truyền bá qua các nước Á Châu như Tây Tạng, Trung Hoa, Sri Lanka, Miến Điện, Đại Hàn, Việt Nam, Nhật Bản … và các nước Tây phương như Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Canada, Úc …Ngày nay với sự phát triển vượt bực, đạo Phật đã trở thành một trong những tôn giáo lớn của thế giới. Đạo Phật đứng hàng thứ tư sau Cơ đốc giáo, Hồi giáo v à Ấn độ giáo.Triết lý siêu việt của đạo Phật đã trở thành một trong những đỉnh cao tư tưởng của lịch sử triết học Đông phương cũng như Tây phương. Phật giáo đã vượt ra khỏi một tôn giáo và là một tư tưởng triết học.

                               Toronto, 10 Nov. 2014.

                               Nguyễn vĩnh Thượng

Cựu Giáo Sư Triết Học tại các trường Tr. H Petrus Ky, Hồ Ngọc Cẩn,

Nguyễn An Ninh, Cần Đước, và trường Sư Phạm Saigon (1969 – 1975)

Nguồn: daophatngaynay.com

 

Dấu hiệu của sự thăng tiến đạo đức

dau-hieu-thang-tien-dao-duc

 
Đọc các bản kinh Phật còn lưu lại trong kinh tạng Pali, chúng ta thấy dân chúng Ấn Độ thời Phật tại thế có lối sống và suy nghĩ thật hiền lương, minh triết. Dấu hiệu của một nếp sống hiền minh như vậy biểu lộ không chỉ ở tấm lòng khao khát được lắng nghe và học tập điều thiện mà còn ở tâm úy lo sợ về điều ác, về hậu quả của các ác hạnh. Họ say mê học hỏi điều lành, điều thiện và tỏ rõ sự lo lắng sợ hãi về điều ác, bất thiện. Đây hẳn là dấu hiệu của một nếp sống thăng tiến đạo đức rất căn bản. Rõ là người ta sẽ cẩn trọng hơn trong cuộc sống và sẽ tránh được các tai họa khổ đau đáng tiếc, khi biết lo lắng sợ hãi về điều xấu ác và hậu quả của nó. Tâm lý xem thường cái ác thường dẫn đến những việc làm bất cẩn, phi pháp gần với các hậu quả khó lường. Trái lại, biết ưu tư lo lắng về cái ác khiến con người trở nên chín chắn và có lối sống đạo đức hiền hòa.

Đức Phật tán thánh hạnh lành và phê bình mọi ác hạnh. Ngài giảng dạy điều lành để khuyến khích nếp sống đạo đức hạnh phúc và Ngài nêu rõ điều ác để ngăn ngừa lối sống buông thả khổ đau. Ngài giải thích rất tường tận các căn nguyên xấu ác đưa đến khổ đau để giúp cho các học trò mình theo đuổi nếp sống cẩn thận, tránh rơi vào các hậu quả bất hạnh. Các tỷ-kheo tỏ rõ sự thăng tiến về mặt đạo đức và thường được tán dương là “những người có đức hạnh” bởi họ được chỉ dạy rất kỷ về nếp sống “không làm các điều ác, thành tựu các hạnh lành” và bởi họ là những người luôn “thấy nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt”. Đối với quần chúng Phật tử đương thời thì dấu hiệu của sự tiến bộ đạo đức thể hiện một phần ở sự lo lắng bị tái sanh trong các khổ cảnh. Người ta lo sợ bị tái sanh trong các cảnh giới không may mắn, chịu bất hạnh khổ đau và tâm lý này dẫn đến thái độ sống cẩn trọng, thiên về các hành vi đạo đức hiển thiện. Những ưu tư thắc mắc của các gia chủ xứ Sa-la đi kèm với những lời giảng giải rất chi tiết của Đức Phật về nguyên nhân của bất hạnh khổ đau được trích dẫn dưới đây cho thấy dấu hiệu tiến bộ đạo đức của quần chúng Ấn Độ dưới thời Phật tại thê, nhờ biết học hỏi , cân nhắc và lo sợ về các điều ác, bất thiện:

–               Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, một số hữu tình sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?

–               Này các gia chủ, do nhân hành phi pháp, hành phi púap chánh đạo, này các Gia chủ, mà ở đây có một số loài hữu tình, sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dử, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

–               Chúng con không thể hiểu đầy đủ những gì Tôn giả Gotama thuyết một cách vắn tắt nếu không được giải thích rộng rãi. Lành thay, nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho chúng con để chúng con có thể hiểu đầy đủ những gì Tôn giả Gotama thuyết một cách vắn tắt!

–               Vậy này các Gia chủ, có ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo, có bốn loại khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo, có ba loại ý hành phi pháp, phi chánh đạo. Này các Gia chủ, thế nào là ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo?
Ở đây, này các Gia chủ, có người sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loại hữu tình. Người này lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác hoặc tại thôn làng hoặc tại rừng núi không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy. Người ấy sống tà hạnh đối với các dục lạc, giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Như vậy, này các Gia chủ, là ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo.

Này các gia chủ, thế nào là bốn loại  khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo?

Ở đây, này các Gia chủ, có người vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi được dẫn ra làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì ông biết”; dầu cho người ấy biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay dầu cho người ấy không thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”; hay dầu cho người ấy thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”. Như vậy, lời nói của người ấy trở thành có ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì. Và người ấy là người nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy ly gián, ưa  thích phá hoại, vui thích phá hoại, thích thú phá hoại, nói những lời đưa đến phá hoại. Và người ấy là người nói lời thô ác. Bất cứ lời gì thô ác, tàn ác, khiến người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định, người ấy nói những lời như vậy. Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi pháp, nói những lời phi luật, nói những lời không đáng giữ gìn. Vì nói phi thời, nên lời nói không có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích. Như vậy, này các Gia chủ, có bốn loại khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo.

Và này các Gia chủ, thế nào là ba loại ý hành phi pháp, phi chánh đạo?.

Ở đây, này các Gia chủ, có người tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ rằng: “Ôi! Mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình!”. Lại có người có tâm sân, khởi lên hại ý, hại niệm như sau: “Mong rằng những loài hữu tình này bị giết, hay bị tàn sát, hay bị tiêu diệt, hay bị tàn hại, hay mong chúng không còn tồn tại!”. Lại có người có tà kiến, có tưởng điên đảo như: “Không có bố thí, không có kết quả của bố thí, không có tế lễ, không có cúng dường, các hành vi thiện ác không có kết quả dị thực, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trong đời không có Sa-môn, Bà-la môn chân chính hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự tri, tự chứng lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau”. Như vậy, này các Gia chủ, là ba ý hành phi pháp, phi chánh đạo.

Như vậy do nhân hành phi pháp, hành phi chánh đạo, này các Gia chủ, ở đây, một số loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Khi nghe nói vậy, các gia chủ Bà-la môn ở Sa-la bạch Thế Tôn:

–               Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quâng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện để trình bày. Và nay chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng!


Chú thích: Kinh Saleyyaka, Trung Bộ.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 59 | NGUYÊN LẠC
 
Trang 1 / 4


Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module

Hình ảnh

link s6
link s7

Thống kê lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterKhách online90
mod_vvisit_counterHôm qua142
mod_vvisit_counterTổng khách online384674

Your IP: 54.81.78.135
ngày 28 - Tháng 5 - 2018