Chua Cam Lo

Kinh điền

Bố cục Phật thuyết kinh A Di Đà

‘Tịnh độ là lòng trong sạch chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương. Di Đà là tính sáng soi mựa phải nhọc cầu về Tịnh Độ’. Do vậy, bản kinh soi tỏ thế giới của tâm thức, mở bày tâm thức để tỏ ngộ tâm thức. Khi đã đoạn trừ hết tất cả lậu hoặc, lập tức tâm sáng vô ngần, không còn khổ đau phiền não nữa, thì đó là cảnh giới của Tây Phương Cực Lạc hiện rõ trong mỗi chúng ta vậy. 

 

Kinh A Di Đà là bản kinh được tụng đọc thuộc lòng trong hầu hết Tăng Ni và tín đồ Phật tử Việt Nam, cũng như các nước theo truyền thống Tịnh độ tông Phật giáo. Bản kinh nay thuộc dạng “Vô vấn tự thuyết”, bởi vì cõi Tây phương Cực lạc duy chỉ có đức Phật Thích Ca mới biết rõ. Ngài muốn giới thiệu thế giới này cho hàng đệ tử tu tập nhằm thoát khỏi cảnh giới khổ đau uế trược Ta bà để được vãng sanh cõi nước Cực Lạc.
Kinh A Di Đà ngắn gọn, dễ tụng đọc, nhưng hàm chứa một nội dung triết lý sâu sắc. Kinh gồm ba phần, phần Tựa, phần Chánh tông và phần Lưu thông.

I. Phần tựa
Phần này bao gồm Thông tựa và Biệt tựa. Phần thông tựa có hai mục chủ yếu:

A. Thông tựa:
1. Nêu rõ thời gian và địa điểm của pháp hội: “Tôi nghe như vậy. Một thời đức Phật ở nước Xá Vệ, trong rừng Kỳ Đà, vườn ông Cấp Cô Độc.”

2. Đại chúng nghe pháp:
a. Chúng Thanh văn
- Phân rõ số lượng: “Cùng chúng Tỷ kheo một ngàn hai trăm năm chục vị đến dự”
- Tán thán đức hạnh của các vị này: “Tất cả đều là chúng trí thức bậc đại A La Hán”
- Liệt kê danh tánh các bậc thượng thủ: “Ngài Xá Lợi Phất, đại Mục Kiền Liên, Ma ha Ca Diếp cùng Ca Chiên Diên, đại Câu Thi Na và Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà, Nan Đà, A Nan và La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, đại Kiếp Tân Na và Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà...cùng những vị đệ tử vĩ đại như thế.”
b. Chúng Bồ tát: “Cùng chư Bồ tát: Văn Thù Sư Lợi con đấng Pháp vương, ngài A Dật Đa, Càn Đà Ha Đề, ngài Thường Tinh Tấn...và những vị Bồ tát vĩ đại khác nữa.”
c. Chúng nhơn, thiên: “Thích Đế Hoàn nhân cùng với vô lượng hội chúng cõi trời cùng đến hội họp.”

B. Biệt tựa: “Bấy giờ Phật bảo ngài Xá Lợi Phất: ở về phương Tây cách đây quá hơn mười vạn ức cõi, có một thế giới tên là Cực Lạc, cõi ấy có Phật hiệu A Di Đà hiện đang thuyết pháp.”


II. Phần chánh tông
A. Nói rộng quả báo thù thắng về Y báo và Chánh báo của cõi nước Cực lạc để làm phát khởi tín tâm.
1. Y báo thù thắng
a. Trưng bày và giải thích
Trưng bày: “Cõi ấy cớ gì mệnh danh Cực lạc?”
Giải thích: Giải thích về chủ thể thọ dụng: “Chúng sanh ở trong nước ấy không có các khổ, chỉ hưởng toàn vui, nên gọi Cực Lạc.”
Giải thích về đối tượng thọ dụng: “Lại nữa Xá Lợi Phất, ở cõi Cực Lạc có bảy tầng lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy hàng cây lớn, đều được làm bằng bốn thứ châu báu, bủa vây xung quanh, cho nên nước ấy tên là Cực Lạc.”
b. Giải thích rộng thêm
(1), Giải thích riêng về sở thọ
- Giải thích về chỗ vãng sanh: “Xá Lợi Phất, ở cõi nước Phật ấy có ao bảy báu, nước tám công đức đầy dẫy bên trong ao, đáy ao dát toàn một thứ cát vàng, đường đi bốn bên đều được làm bằng vàng bạc lưu ly pha lê hợp thành. Lại có lâu đài cũng được trang hoàng vàng bạc lưu ly xa cừ, xích châu mã não. Hoa sen trong ao lớn bằng bánh xe, sen xanh tỏa ra ánh sáng màu xanh, sen vàng tỏa ra ánh sáng màu vàng, sen đỏ tỏa ra ánh sáng màu đỏ, sen trắng tỏa ra ánh sáng màu trắng, hương thơm kỳ diệu.”
- Kết quả là do Phật lực: “Cõi nước Cực lạc được trang nghiêm nhờ công đức như vậy.”
(2), Giải thích chung về chủ thể và đối tượng thọ dụng
(a), Nêu rõ về thọ dụng đối với năm căn, năm trần
- Chánh minh: “Xá Lợi Phất, cõi nước Phật ấy thường trỗi nhạc trời, đất bằng vàng ròng, đêm ngày sáu thời hoa Mạn đà la tuôn như mưa xuống, chúng sanh nước ấy, cứ mỗi sáng sớm dùng những túi vãi mà hứng đầy hoa để đi cúng dường mười vạn ức Phật ở các cõi khác, rồi đến giờ ăn lại về nước mình, ăn xong đi dạo.”
- Biểu thị kết quả: “Xá Lợi Phất, cõi nước Cực lạc được trang nghiêm nhờ công đức như vậy.”
(b), Nêu rõ về thọ dụng của tai nghe và âm thanh
- Giải thích riêng biệt rõ ràng
- Biến hóa âm thanh loài hữu tình   
Biến thành âm thanh của loại chim thuyết pháp lợi sanh: “Lại nữa, Xá Lợi Phất, nước ấy thường có những giống chim lạ, đủ các màu sắc: Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già và chim Cộng mạng, những giống chim ấy đêm ngày sáu thời hót tiếng thanh tao, thuyết minh những pháp năm căn năm lực, cùng bảy yếu tố đưa đến tuệ giác, Thánh đạo tám ngành, những pháp như vậy. Chúng sanh nước ấy, nghe âm thanh kia đều tưởng nhớ Phật, nhớ Pháp, nhớ Tăng.”
 Trưng bày và giải thích sơ lược: “Xá Lợi Phất, ông chớ cho rằng những giống chim ấy, thực do ác nghiệp mà được sinh ra, bởi vì cớ sao? Cõi nước Phật ấy tuyệt nhiên không có ba thứ ác đạo. Này Xá Lợi Phất, ở cõi Phật ấy cái tên ác đạo cũng còn không có, huống chi có thật. Những giống chim ấy đều do đức Phật hiệu A Di Đà, muốn cho pháp âm được loan truyền khắp mà biến hóa ra.”
- Biến hóa âm thanh của loài vô tình: “Cõi nước Phật ấy mỗi khi gió thoảng thì các cây báu và hàng lưới báu phát ra âm thanh cực kỳ vi diệu như đồng một lúc trăm ngàn nhạc khí giao hưởng hòa tấu. Người nghe tiếng nhạc tự nhiên đều phát khởi tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.”
Tổng kết: “Cõi nước Phật ấy được trang nghiêm nhờ công đức như vậy.”

2. Chánh báo thù thắng
Giải thích trưng bày về danh hiệu
(1), Trưng bày: “Xá Lợi Phất, ý ông nghĩ sao? Phật kia vì sao mà được mệnh danh là A Di Đà.”
(2), Giải thích:
- Giải thích về ánh sáng quang minh: “Xá Lợi Phất, ánh sáng vô lượng của đức Phật ấy chiếu soi mười phương các cõi nước khác không gì chướng ngại, cho nên mệnh danh là A Di Đà.”
- Giải thích về thọ mạng: “Xá Lợi Phất thọ mạng của đức Phật ấy cùng với nhân dân ở cõi Cực Lạc vô lượng vô biên, không tính số kiếp, cho nên mệnh danh là A Di Đà.”
Giải thích riêng về chủ thể và đối tượng
Giải thích riêng:
a. Chủ thể: “Xá Lợi Phất, Phật A Di Đà từ khi thành Phật cho đến ngày nay đã qua mười kiếp.”
b. Đối tượng: “Xá Lợi Phất, Phật ấy có vô lượng đệ tử Thanh văn, toàn A La Hán, không thể dùng toán mà tính biết được. Chúng hội Bồ tát cũng đông như thế.”

3. Kết thị: “Xá Lợi Phất, cõi nước Phật ấy được trang nghiêm nhờ công đức như vậy.”

B. khuyến khích chúng sanh muốn cầu vãng sanh thì phải phát nguyện
1. Do vô lượng nhân duyên: “Xá Lợi Phất, chúng sanh sanh về cõi nước Cực Lạc là những bậc không còn thối chuyển, đa số trong đó chỉ còn một đời là được bổ nhậm, số này rất nhiều không thể tính xiết, chỉ có thể dùng khái niệm vô số, vô lượng vô biên để mà mô tả.”

2. Khuyến khích vãng sanh về cõi Tịnh độ thù thắng: “Xá Lợi Phất, chúng sanh nghe được thì nên phát nguyện sanh về Cực Lạc để được cùng với những người thánh thiện bậc nhất như vậy sống chung một chỗ.”

C. Hành giả chấp trì danh hiệu Phật để lập hạnh
1. Do nhân quả phước đức: “Xá Lợi Phất, thật không thể do chút ít căn lành, chút ít phước đức mà được sanh đến cõi nước kia đâu. Này Xá Lợi Phất, nếu có những kẻ trai lành, gái lành nghe nói về đức Phật A Di Đà chuyên niệm danh hiệu, hoặc trong 1 ngày, hoặc trong 2 ngày, hoặc trong 3 ngày, hoặc trong 4 ngày, hoặc trong 5 ngày, hoặc trong 6 ngày, hoặc trong 7 ngày, tâm không tán loạn, thì những người ấy vào lúc lâm chung, Phật A Di Đà cùng với thánh chúng hiện ra trước mặt làm cho tâm họ không bị điên đảo, liền được sanh về cõi nước Cực Lạc của Phật A Di Đà.”

2. Khuyến khích thêm về sự phát nguyện vãng sanh: “Này Xá Lợi Phất vì Ta thấy được sự lợi ích như thế nên nói lời rằng, nếu có chúng sinh nghe được kinh này thì nên phát nguyện sanh về Cực Lạc.”


III. Phần lưu thông
Khuyến khích rộng rãi
Khuyến khích phát khởi tín tâm
a. Lược dẫn tiêu đề: “Xá Lợi Phất như Ta hiện đang ca tụng công đức bất khả tư nghì của Phật A Di Đà.”
(1). Đông phương: “Thì ở Phương đông cũng có Chư Phật như: A Súc Bệ, Phật Tu Di Tướng, Phật Đại Tu Di, Phật Tu Di Quang, và Phật Diệu Âm, hằng hà sa số chư Phật như thế, mỗi vị ở nơi quốc độ của mình mà xuất tướng lưỡi rộng dài bao trùm khắp cả đại thiên thế giới nói lời thành thật: ‘Này chúng sinh ơi, các ngươi hãy tin bản kinh ca ngợi công đức khôn lường, kinh được hết thảy Chư Phật hộ niệm’.”
(2). Nam phương: “Thế giới phương Nam cũng có các đức Phật như: Phật Nhật Nguyệt Đăng, Phật Danh Văn Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tu Di Đăng, Vô Lượng Tinh Tấn, hằng hà sa số chư Phật như thế, mỗi vị ở nơi quốc độ của mình mà xuất tướng lưỡi rộng dài bao trùm khắp cả đại thiên thế giới nói lời thành thật: ‘Này chúng sinh ơi, các ngươi hãy tin bản kinh ca ngợi công đức khôn lường, kinh được hết thảy Chư Phật hộ niệm’.”
(3). Tây phương: “Thế giới phương Tây cũng có Chư Phật như: Phật Vô Lượng Thọ, Phật Vô Lượng Tướng, Phật Vô Lượng Tràng, Đức Phật Đại Quang, Đức Phật Đại Minh, Đức Phật Bảo Tướng, Đức Phật Tịnh Quang, hằng hà sa số chư Phật như thế, mỗi vị ở nơi quốc độ của mình mà xuất tướng lưỡi rộng dài bao trùm khắp cả đại thiên thế giới nói lời thành thật: ‘Này chúng sinh ơi, các ngươi hãy tin bản kinh ca ngợi công đức khôn lường, kinh được hết thảy Chư Phật hộ niệm’.”
(4). Bắc phương: “Thế giới phương Bắc cũng có Chư Phật như: Phật Diệm Kiên, Phật Tối Thắng Âm, Đức Phật Nan Trở, Đức Phật Nhật Sanh, Đức Phật Võng Minh... hằng hà sa số chư Phật như thế, mỗi vị ở nơi quốc độ của mình mà xuất tướng lưỡi rộng dài bao trùm khắp cả đại thiên thế giới nói lời thành thật: ‘Này chúng sinh ơi, các ngươi hãy tin bản kinh ca ngợi công đức khôn lường, kinh được hết thảy Chư Phật hộ niệm’.”
(5). Phương dưới: “Thế giới phương Dưới có Phật Sư Tử, Danh Văn, Danh Quang Đạt Ma, Pháp Tràng và Phật Trì Pháp, hằng hà sa số chư Phật như thế, mỗi vị ở nơi quốc độ của mình mà xuất tướng lưỡi rộng dài bao trùm khắp cả đại thiên thế giới nói lời thành thật: ‘Này chúng sinh ơi, các ngươi hãy tin bản kinh ca ngợi công đức khôn lường, kinh được hết thảy Chư Phật hộ niệm’.”
(6). Phương trên: “Thế giới phương Trên cũng có những Đức Phật danh hiệu Phạm Âm, Tú Vương, Hương Thượng, và Phật Hương Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Tạp Sắc Bảo Hoa, Ta La Thọ Vương, Phật Bảo Hoa Đức, Kiến Nhất Thiết Nghĩa, Như Tu Di Sơn...hằng hà sa số chư Phật như thế, mỗi vị ở nơi quốc độ của mình mà xuất tướng lưỡi rộng dài bao trùm khắp cả đại thiên thế giới nói lời thành thật: ‘Này chúng sinh ơi, các ngươi hãy tin bản kinh ca ngợi công đức khôn lường, kinh được hết thảy Chư Phật hộ niệm’.”
b. Trưng bày, giải thích đề kinh: “Xá Lợi Phất ý ông nghĩ sao? Vì sao gọi rằng kinh được hết thảy Chư Phật hộ niệm? Xá Lợi Phất, nếu có những người trai lành, gái lành được nghe kinh này và danh hiệu Phật, thì những kẻ ấy đều được hết thảy chư Phật thương tưởng, được sự bất thối đối với quả vị Vô thượng Bồ đề. Bởi thế cho nên, Xá Lợi Phất này, các ngươi hãy nên tin nhận lời của Ta và của Chư Phật nói.”

2. Khuyến khích phát nguyện lưu thông: “Xá Lợi Phất, nếu có những người đã từng phát nguyện hoặc đang phát nguyện, hoặc sẽ phát nguyện, muốn sanh vào nước Phật A Di Đà, thì những người ấy đều được bất thối đối với quả vị Vô thượng Bồ đề, và đã được sanh về cõi nước ấy, hoặc đang được sanh hoặc sẽ được sanh. Bởi thế cho nên, này Xá Lợi Phất, trai lành gái lành ai có đức tin hãy nên phát nguyện sanh về Cực Lạc.”

3. Khuyến khích thực hành lưu thông:
a. Chư Phật khen ngợi xưng tán: “Xá Lợi Phất, như Ta hiện đang ca tụng công đức bất khả tư nghì của chư Phật ấy, thì những vị này cũng đang ca tụng công đức của Ta bất khả tư nghì, và thốt lời rằng: ‘Đức Phật Thích Ca đã làm được việc khó khăn hiếm có, ấy là có thể ở cõi Ta Bà vào thời xấu ác, với năm vẩn đục: thời đại vẩn đục, quan niệm vẩn đục, phiền não vẩn đục, chúng sinh vẩn đục, sinh vạng vẩn đục, mà thành tựu được Vô thượng Bồ đề, lại vì chúng sinh nói ra cái pháp hết thảy thế gian rất khó tin này’.”
b. Giáo chủ kết thán: “Này Xá Lợi Phất, nên biết rằng Ta thành tựu được đạo Vô thượng Bồ đề giữa đời ngũ trược đã là việc khó, mà đem nói ra cái pháp khó tin cho cả thế gian, lại càng khó hơn.”

B. Kết khuyến: “Khi đức Phật nói khế kinh này xong, ngài Xá Lợi Phất cùng các Tỷ kheo, trời, người, A Tu la và cả thế gian hoan hỷ tín thọ, làm lễ mà lui.”
    Trên đây là bố cục của bài kinh A Di Đà mà chúng ta thường tụng trong các thời khóa hằng ngày. Mặc dầu bài kinh có văn cú ngắn gọn nhưng nội dung vô cùng súc tích, phong phú. Xuyên suốt bài kinh, đức Phật tuần tự giới thiệu về cảnh giới của cõi nước Cực Lạc. Về Y báo và Chánh báo, những nhân duyên thù thắng để hội tụ nên thế giới ấy. Qua đó để hành giả Tịnh độ thấy rõ mà phát khởi tín tâm và muốn cầu vãng sanh. Hành giả tu tập pháp môn Tịnh độ thì điều tiên quyết phải có đầy đủ ba yếu tố đó là: Tín, Nguyện và Hạnh. Tức là phải có niềm tin, xác quyết với niềm tin đó để phát nguyện và sau khi phát nguyện rồi thì phải thực hành. Nếu thiếu một trong ba yếu tố trên thì tiến trình tu theo pháp môn này sẽ khó thành tựu.
Ở đây, cảnh giới Tịnh độ không nằm ngoài tâm. Bởi vì, ‘tùy kỳ tâm tịnh tức Phật độ tịnh’. Hay như Phật hoàng Trần Nhân Tông nói: ‘Tịnh độ là lòng trong sạch chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương. Di Đà là tính sáng soi mựa phải nhọc cầu về Tịnh Độ’. Do vậy, bản kinh soi tỏ thế giới của tâm thức, mở bày tâm thức để tỏ ngộ tâm thức. Khi đã đoạn trừ hết tất cả lậu hoặc, lập tức tâm sáng vô ngần, không còn khổ đau phiền não nữa, thì đó là cảnh giới của Tây Phương Cực Lạc hiện rõ trong mỗi chúng ta vậy.  

Thích Trung Định dịch và chú
 

TỔNG LUẬN ĐỀ KINH NĂNG ĐOẠN KIM CƯƠNG BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT PHẠN - TẠNG 02/06/2015 16:33 admin

image
Vượt qua hay đến bờ bên kia đều là ngôn ngữ ẩn dụ mang tính biểu tượng. Bờ bên này là dụ cho sinh tử, mê lầm, lang thang trôi nổi,…Bờ bên kia là dụ cho Niết Bàn, giải thoát.

I/TIỂU DẪN

Năng Đoạn Kim Cương Bát-nhã Ba-la-mật Kinh, nguyên văn Sanskrit Devanagari hiện hành là: वज्रच्छेदिका नाम त्रिशतिका प्रज्ञापारमिता।Vajracchedikā nāma triśatikā prajñāpāramitā, trongBuddhist Sanskrit Texts tồn tại văn bản này với nhan đề: Vajracchedika prajñāpāramitā-sūtra[1],dường như nhan đề này được phục hồi dựa trên dẫn chứng từ những điều xuất hiện ở cuối kinh văn của một vài thủ bản Kinh Kim Cương, hình thành vào khoảng thế kỷ thứ V sau Tây Lịch, cụ thể như bản dịch tiếng Hán của Ngài Cấp-đa (590-619): 金剛能斷般若波羅蜜經, bản dịch tiếng Tây Tạng: འཕགས་པ་ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་རྡོ་རྗེ་གཅོད་པ་ཞེས་བྱ་བ་ཐེག་པ་ཆེན་པོའི་མདོ། và nhiều sự trích dẫn khác tồn tại trong Śikṣāmuccaya v.v...

Nhan đề Vajraprajñā pāramitā sūtra phổ thông của kinh Kim Cương cũng có thể được khôi phục dựa trên các bản dịch Hán ngữ tương đương, như bản của Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập): Kim Cương Bát-nhã Ba-la-mật 金剛般若波羅蜜經; Theo E. Lamotte dựa vào từ số dòng của các bài kệ, tên kinh còn được viết là Trisatikā prajñāpāramitā[2].

Tạng ngữ của Kinh Kim cương hiện có tên là:

 འཕགས་པ་ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་རྡོ་རྗེ་གཅོད་པ་ཞེས་བྱ་བ་ཐེག་པ་ཆེན་པོའི་མདོ། - ’phags pa shes rab kyi pha rol tu phyin pa rdo rje gcod pa zhes bya ba theg pa chen po’i mdo. Đề kinh Tạng ngữ đã chuyển tải trọn vẹn những điều mà đề kinh Phạn ngữ: Vajracchedika prajñāpāramitā-sūtra muốn biểu thị. Những “ấn tượng” và “cạm bẫy” làm cho chúng ta bị lù mù và lọt hố khi đụng độ với ngữ pháp và ý nghĩa của bản Kim Cương Phạn ngữ, đã được bản Tạng ngữ tháo gỡ hoàn toàn một cách khôn khéo, tài tình.

Kumārajīva (Cưu-ma-la-thập) trong bản dịch có thẩm quyền của mình đề tên kinh là: Kim Cương Bát-nhã Ba-la-mật kinh 金剛般若波羅蜜經[3]; Ngài Cấp-đa (590-619): 金剛能斷般若波羅蜜經[4] Kim Cương Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh. Ngài Nghĩa Tịnh (635-713), dịch: 剛般若波羅蜜多經[5] Phật Thuyết Năng Đoạn Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh. Ngài Huyền Tráng dịch là Năng Đoạn Kim Cương 能斷金剛[6]; Nguyên Ngụy Lưu Chi, Bồ Đề Lưu Chi dịch là Kim cương Bát-nhã Ba-la-mật kinh 金剛般若波羅蜜經[7].

F.B Cowell, trong Buddhist Mahayana Texts, bản dịch tựa đề: The Vagrakkhedikā or Diamond-Cutter[8]; Còn có bản dịch Anh ngữ từ Phạn văn khác như Vajracchedika prajñāpāramitā-sūtra của Max Muller, Oxford 1881[9] và của Eward Conze cũng dịch từ bản Phạn ngữ Kinh Kim Cương với nhan đề: The Diamond Sutra[10].

Edward Conze, phiên dịch và hiệu đính Vajracchedika Prajnaparamita với lời giới thiệu và chú giải, do nhà xuất bản Roma, Is. M.E.O., ấn hành năm 1957 (từ trang 16-21). Các bản kinh Kim Cương tiếng Pháp đa phần cũng được gọi với với nhan đề ngắn gọn: “Sūtra du Diamant”, “Le Sûtra du diamant” hay “Le sûtra du diamant” v.v..[11]

Ngoài ra còn có sự sưu tập về những văn bản phiên dịch của Kinh Kim Cương ra nhiều thứ tiếng vừa mới xuất bản thành năm tập lớn tại Đài Loan với nhiều nhan đề khác nhau (Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh)[12].

Ở đây chúng ta có thể đặt giả thiết, nếu đúng bản Hán dịch Kim Cương của ngài La-thập được dựa trên bản Phạn hiện có, hoặc tương đương, thì có thể tạm cho rằng sự giản lược đề kinh ở đây dường như có sự cố ý, lược bớt chữ chedikā, (sự) cắt chém, bị lược bỏ. Chúng ta có thể hiểu được điều này, vì cắt chém là công dụng của kim cương, không nhất thiết phải cần đến phẩm định từ, như dao để cắt, chỉ cần nói dao là đủ. Tuy nhiên, trong một số ý nghĩa khác, sự cắt chém của kim cương cần được lưu ý; chedikā chỉ cho tác dụng của viên kim cương (vajra) là có thể hủy hoại và tiêu diệt  hết thảy mọi thứ, nhưng nó không hề bị hủy diệt (tức là thí dụ cho tác dụng của Trí Bát nhã).

Ta có dẫn theo nhận định của Ed. Conze: “Thông thường, theo Max Müller, dịch Vajracchedika Sūtra thành Kinh Kim Cương. Không có nguyên nhân nào để bỏ đi cách dùng thông dụng này. Nhưng, nói theo cách nghiêm túc, càng không chắc chắn có thể xảy ra hơn khi ở đây, người Phật tử có thể hiểu vajra như là chất liệu mà chúng ta gọi là Kim Cương (diamond). Thuật từ rất quen thuộc trong nhiều kinh điển Phật giáo, gồm cả Đại phẩm Bát-nhã ba-la-mật-đa (Large Prajñaparamita Sutras)[13]. Khắp mọi nơi trong Kinh đều nói đến ‘tiếng sét’ huyền diệu, và biểu hiện cho năng lực vĩ đại không thể kháng cự lại được, cả ý nghĩa thụ động và chủ động. Vì vậy, nên đề kinh có nghĩa là: ‘Tuệ giác cụ túc chém đứt (các thứ) như sấm chẻ’, hoặc ít chắc chắn hơn: ‘trí huệ có thể chặt đứt cả sấm sét’”[14].

II/GIẢI THÍCH ĐỀ KINH

Trước tiên, chúng ta cần đọc lại một đoạn kinh Sanskrit và một vài đoạn trong bản dịch tương đương của Kinh Năng Đoạn Kim Cương Bát-nhã:

[1] Phạn Ngữ: “evam ukta āyuṣmān subhūtir bhagavantam etad avocat | ko nāma ayaṃ bhagavan dharmaparyāyaḥ kathaṃ cainaṃ dhārayāmi |evam ukte bhagavān āyuṣmantaṃ subhūtim etad avocat | prajñāpāramitā nāma ayaṃ subhūte dharmaparyāyaḥ | evaṃ cainaṃ dhāraya | tatkasyahetoḥ | yaiva subhūte prajñāpāramitā tathāgatena bhāṣitā saiva-a-pāramitā tathāgatena bhāṣitā | tenocyate prajñāpāramiteti |[15]: Bấy giờ, Tôn giả Tu-bồ-đề (Subhūti), bạch đức Thế Tôn rằng: “Pháp bản này, nên được gọi bằng tên gì? Và con nên phụng trì như thế nào?” Khi ấy, Đức Thế Tôn dạy Tôn giả Tu-bồ-đề rằng: “Pháp bản này tên là Bát-nhã Ba-la-mật đa, tôn giả hãy như thế mà phụng trì. Tại sao? Này Tu-bồ-đề! Vì do Bát-nhã Ba-la-mật đa được tuyên thuyết bởi Như Lai, chính nơi nó không phải là Bát-nhã Ba-la-mật được Như Lai tuyên thuyết.  Cho nên, gọi là Bát-nhã-ba-la-mật”

[2] Tạng ngữ: “དེ་སྐད་ཅེས་བཀའ་སྩལ་པ་ དང་ / བཅོམ་ལྡན་འདས་ལ་ ལ་ ཚ་ དང་ལྡན་པ་ རབ་འབྱོར་ གྱིས་ འདི་སྐད་ཅེས་གསོལ་ཏོ་ / / བཅོམ་ལྡན་འདས་ ཆོས་ཀྱི་རྣམ་གྲངས་ འདིའི་ མིང་ ཅི་ལགས་ / འདི་ཇི་ལྟར་ ཇི་ལྟར་བཟུང་ བཟུང་བར་ བགྱི་ / དེ་སྐད་ཅེས་གསོལ་པ་ དང་ / བཅོམ་ལྡན་འདས་ཀྱིས་ ཚ་ དང་ལྡན་པ་ རབ་འབྱོར་ ལ་ འདི་སྐད་ཅེས་བཀའ་སྩལ་ཏོ་ / / རབ་འབྱོར་ ཆོས་ཀྱི་རྣམ་གྲངས་ འདིའི་ མིང་ ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་ ཞེས་བྱ་སྟེ་ འདི་ དེ་ལྟར་ བཟུངས་ ཤིག་ / དེ་ཅིའི་ཕྱིར་ཞེ་ན་ / རབ་འབྱོར་ དེ་བཞིན་གཤེགས་པས་ ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་ གང་གསུངས་པ་ དེ་ཉིད་ ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་ མེད་པའི་ ཕྱིར་ ཏེ་ / དེས་ན་ ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་ ཞེས་བྱའོ་ /”[16]: Khi đó, Tu-bồ-đề hỏi đức Thế Tôn rằng: “Pháp thoại này được mệnh danh là gì? Chúng con phải lãnh thọ và tu tập như thế nào?” Ngay khi ấy, đức Phật liền trả lời với Tu-bồ-đề: “Pháp thoại này gọi tên là Tuệ giác như chày kim cương có khả năng chém đứt (mọi thứ) đưa đến bờ bên kia”, như vậy hãy theo đó mà lãnh thọ và tu tập. Tại sao thế? Vì Tuệ giác như chày kim cương có khả năng chém đứt (mọi thứ) để đưa đến bờ bên kia được thuyết giảng bởi Như Lai, ngay nơi nó không phải là Tuệ giác như chày kim cương có khả năng chém đứt (mọi thứ) để đưa đến bờ bên kia được Như Lai thuyết giảng. Vì vậy, gọi là Tuệ giác như chày kim cương có khả năng chém đứt (mọi thứ) để đưa đến bờ bên kia

[3] La Thập Hán ngữ爾時, 須菩提白佛言: 「世尊, 當何名此經, 我等云何奉持?」佛告須菩提: 「是經名為 『金剛般若波羅蜜』 以是名字, 汝當奉持。 以者何?須菩提,佛說般若波羅蜜,則非般若波羅蜜。[17] “Bấy giờ, ngài Tu-bồ-đề thưa đức Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Nên gọi tên kinh[18] này thế nào ? Chúng con làm sao để phụng trì?” Đức Phật bảo Tu-bồ-đề: “Kinh này tên là Kim Cương Bát-nhã Ba-la-mật, Ông nên phụng trì theo tên gọi ấy”. Tại sao như vậy? Này Tu-bồ-đề ! Như Lai nói Bát-nhã ba-la-mật tức không phảiBát-nhã ba-la-mật, đó gọi là Bát-nhã ba-la-mật.[19]

[5] Ed. Conze Anh Ngữ: “Subhuti asked: What then, O Lord, is this discourse on dharma, and how should I bear it in mind? The Lord replied: This discourse on dharma, Subhuti, is called 'Wisdom which has gone beyond', and as such should you bear it in mind! And why? Just that which the Tathagata has taught as the wisdom which has gone beyond, just that He has taught as not gone beyond. Therefore is it called 'Wisdom which has gone beyond'[20]: Ngài Tu-bồ-đề bạch Thế Tôn: “Vậy thì pháp thoại này có tên gọi là gì? và con nên ghi nhớ như thế nào? Thế Tôn trả lời: “Tu-bồ-đề Pháp thoại này có tên gọi là “Trí Tuệ viên mãn đưa đến bờ kia (Bát-nhã Ba-la-mật)”. Ông hãy nên như thế mà ghi nhớ. Tại sao? Này Tu-bồ-đề Trí Tuệ viên mãn đưa đến bờ kia được dạy bởi Như Lai, thì chính nó không phải là Trí Tuệ viên mãn đưa đến bờ kia được Như Lai dạy. Vì thế, gọi là Trí Tuệ viên mãn đưa đến bờ kia (Bát-nhã Ba-la-mật)”.

Ở đây, chỉ mới là phần giải thích đề kinh, nên chúng ta chưa vội đi vào tìm hiểu ý nghĩa của các đoạn kinh văn vừa dẫn. Qua đoạn kinh Phạn ngữ và các đoạn kinh dịch tương đương dẫn ở trên, chúng ta thấy tên kinh do Đức Thế Tôn có đôi phần dị biệt qua các Tụng bản. Ngay cả ở trong bản Sanskrit tên kinh cũng được chỉ viết là: “prajñāpāramitā”, chứ không phải là “Vajracchedika prajñāpāramitā-sūtra”; từ “vajra” không thấy được xuất hiện.

Nhưng sự giải thích đề kinh ở đây, sẽ dựa theo tên gọi được ghi ở trong Buddhist Sanskrit Texts[21]  phổ thông được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận nhất là: “Vajracchedika prajñāpāramitā-sūtra” và đề kinh tiếng Tây Tạng là འཕགས་པ་ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་རྡོ་རྗེ་གཅོད་པ་ཞེས་བྱ་བ་ཐེག་པ་ཆེན་པོའི་མདོ།[22]

Tính từ vajracchedika, kết hợp ở dạng giống cái với danh từ giống cái prajñāpāramitā, thì nó sẽ được viết thànhvajracchedikā. Theo ngữ Pháp Sanskrit, Vajracchedika là từ kép karmadhāraya (hạn định qua mô tả), có dạng theo công thức: “Danh từ + Tính từ”, và phối âm giữa Vajra  chedika. Theo luật phối âm (Samdhi) tiếng Phạn “ch” đứng sau nguyên âm ngắn bắt buộc phải trở thành “cch”. Nên, Vajra  Chedika ghép lại phải viết làVajracchedika. Nó thuộc loại tính từ có nghĩa như danh từ/bởi vì danh từ/với danh từ/bởi vì danh từ với/ nhờ danh từ. Trong trường hợp này danh từ đóng vai trò làm trạng từ bổ nghĩa cho tính từ, với hàm ý đối chiếu hay so sánh. Vậy vajracchedika,có nghĩa là hay đập vỡ nát, hay chém đứt hoặc cắt chém tốt, cắt đứt có hiệu quả như chày kim cương”. Tạng ngữ gọi là འཕགས་པ་རྡོ་རྗེ་གཅོད་པ།[23], dịch Anh là: the blessed Diamond-cutter.

Cho nên, Vajra trong kinh này được thí dụ như: “công cụ hữu hiệu” hay “phương tiện hữu hiệu” trong việc cắt chém (chủ động), chứ không phải là “đối tượng bị cắt chém” (bị động).

Vajra là một loại khoáng chất kiên cố, bất hoại và sắc bén. Nó có khả năng phá hoại các vật khác; nhưng vật khác thì không thể phá hoại được nó. Vajra tự bản chất là kiên cố, bất hoại và sắc bén, chứ không phải do thứ khác tạo thành. Vajra được dùng để, thí dụ, ẩn dụ cho pháp, pháp đó có hai ưu điểm:

Có khả năng tồi phục các thứ oán địch, nhưng các thứ oán địch thì không thể nào tồi phục được nó.

Có khả năng hủy diệt các phiền não, nhưng các loại phiền não thì không thể hủy diệt được nó.

Vajra, Hán ngữ dịch là Kim Cương và Anh dịch của Ed. Conze là Diamond. Dịch như vậy, là chỉ mới chú trọng đến tính cứng rắn của nó, chứ chưa nói đến tính chất phá hủy như sấm sét của nó, nên Vajra còn được dịch là “Kim cương chùy” hoặc “Kim cương xử”: tức là chày kim cương, nó liên quan đến thần thoại Ấn Độ, đó là vũ khí của trời Indra Đế Thích. Trong văn học Agama  Nikāya cụ thể hóa qua hình tượng thần Vajrapāṇi, Kim Cương Thủ, vajra là vũ khí chiến đấu của vị Thần này.

Chedikā động từ căn Chid (VII chinatti/chinatte), phẩm định từ, có nghĩa là chặt đứt, cắt đứt, tách rời ra,… Ta có thể phân tích ngữ pháp như sau:

Trường hợp đầu tiên: ta thêm vào hậu tố loại một kṛt pratyaya “i” vào gốc động từ chid, theo định thức: chid --- > (guṇa): ched --- > ched+i = chedi; Chedi, nó làm tính từ, ở dạng chủ động có nghĩa là “cắt được” hay có “khả năng cắt/chém được”.

Trường hợp thứ hai: Ta thêm một hậu tố loại hai addhita pratyaya ka” vào động từ căn chid, theo định thức: chedi +ka = chedika, nó trở thành một tính từ. Hậu tố “ka” trong Sanskrit, giúp đưa ra kết quả có  chín loại nghĩa khác nhau, trong trường hợp ở đây, theo nghĩa thứ năm là “siêng năng trong hành động”; “chủ động thi thiết hành động” v.v..

Vậy, chedika có nghĩa là khả năng chặt đứt, có khả năng cắt đứt, có khả năng tách rời ra, hay chém đứt, chém đứt tốt, chém đứt hiệu quả, v.v..

Prajñā đi từ động từ căn jñā, có nghĩa là nhận thức, hiểu biết, liễu tri, … và prajñā có nghĩa là tuệ giác, trí tuệ, minh tuệ, quán tuệ, thông tuệ, liễu tuệ, … Trí tuệ có khả năng soi chiếu đến chỗ tột cùng của chân lý, thấu triệt bản thể và mọi hình thái của vạn pháp. Tử Tuấn đã giải thích: “Nhã là tự giới (dhātu, động từ căn jñā). Ban (pra-) và na (-na) đều là tự duyên (paratyaya, trợ ngữ, tiếp đầu và tiếp vĩ). Nhã khi lấy ban làm trợ ngữ, (pra+căn jñā), có nghĩa là Tuệ. Nhã khi lấy –na làm trợ ngữ (jñā+ña), có nghĩa là Trí. Phô thông nhiều lúc không phân biệt, trí tức là tuệ và tuệ tức là trí. Nên hai âm bát và nhã cũng đều dịch chung là Trí Tuệ”[24]. Prajñā, Hán phiên âm là Bát-nhã và dịch là, trí tuệ, tuệ minh v.v..

Prajñā là Trí tuệ có khả năng soi chiếu để thấy rõ căn nguyên của sự vật.  Cũng có khi, Prajñā được dịch là không-trí hoặc không-tuệ. Trí tuệ phát sinh do thực hành pháp không-quán mà chứng đắc. Prajñā là Tuệ giác toàn hảo và thâm diệu, tuệ giác ấy do quá trình tu tập quán chiếu “Không lý” mà sinh khởi, nên Prajñā còn gọi là “Không Trí” hay “Không Tuệ”. Nghĩa là trí tuệ do thực hành quán chiếu “Không lý” đem lại. Không lý là chỉ cho “Như Lý” của vạn pháp, mà cụ thể là ngũ thủ uẩn; Không trí hay không tuệ là chỉ cho như trí của Prajñā đang soi chiếu năm thủ uẩn. Chỉ có như trí mới soi chiếu và trực nhận được như lý của ngũ thủ uẩn. TRÍ thẩm thấu bên trong của LÝ thấy rõ sắc uẩn không phải là tự ngã, và ngay nơi mỗi yếu tố tạo nên sắc uẩn cũng không có tự thể hay không có thực hữu của ngã và pháp. Như trí soi chiếu thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn cũng giống như vậy. Nghĩa là trong các uẩn không có tự thể ngã và pháp và ngay trong các yếu tố riêng biệt hợp thành các uẩn, nó cũng không hề có tự thể ngã-pháp. Như vậy, ở đây Prajñā  mà chúng ta tạm gọi là Như trí có khả năng trực nhận ra ngay trong “ngũ thủ uẩn” không phải chỉ là “giai không” về ngã mà còn “giai không” về pháp.

Prajñā có khả năng trực nhận ra tự tính không ở nơi vạn pháp, không phải là không trơn, lại càng không phải là cái không nhị nguyên đối đãi với cái có, mà nó là một thực tại tính của vạn pháp. Thực tại tính ấy, không hề lệ thuộc không gian và thời gian. Bất cứ cái gì nằm trong khuôn khổ tập hợp tương đối của không gian và thời gian thì cái đó là có sinh có diệt, có uế có tịnh, có tăng có giảm, có hợp có ly, có vô minh, có hành, có thức, có danh sắc cho đến có lão-tử; cái đó có Khổ - Tập - Diệt - Đạo; cái ấy có trí và có đắc. Trái lại, Prajñā thấy rõ TÁNH KHÔNG là tính như thực của mọi sự hiện hữu, vượt ra ngoài cái sinh diệt của không gian và thời gian, không còn có ấn tượng về Ngã (Atmasaṃjñā)[25], ấn tượng về bổ-đặc-già-la (Pudgalasaṃjñā)[26],  về chúng sanh  (Sattvasaṃjñā)[27], và về thọ giả (Jīvasaṃjñā)[28]. Như vậy, Prajñā thành tựu là do sự nỗ lực tu tập thể nhập TUỆ KHÔNG chứ không phải do loại suy mà có.

Prajñā trong Sanskrit có quá nhiều ý nghĩa phong phú, việc phiên dịch nó thành một từ tương đương, không phải là một vấn đề dễ dàng. Cho nên, Hán ngữ không có một từ ngữ nào tương ứng với Prajñā, nên phần nhiều các dịch giả Hán chỉ chuyển âm Prajñā là Bát-nhã và kèm theo nhiều cước chú, luận giải.

Ed. Conze trong bản dịch Anh ngữ The Diamond-sutra của mình, nhiều trường hợp dịch Prajñā là Wisdom, một số bản Anh ngữ khác dịch là Insight. Wisdom, có nghĩa là: tri thức, tri giác, trí tuệ, kiến thức, học thức, ở những trường hợp khác nó được hiểu là sự từng trải, lịch duyệt và trong Triết học người ta dùng nó với ý nghĩa: “thông thái”. Insight, nó có nghĩa là: sự sáng suốt, sự hiểu biết rõ ràng, sự nhìn thấy rõ bên trong của sự vật, sự nhìn thấy bản chất của sự vật v.v.. Tuy Prajñā được chuyển dịch thành Wisdom hoặc Insight, nhưng rất nhiều trường hợp khác nhau mà các dịch giả Anh/Pháp đều để nguyên Prajñā. Vì không có từ ngữ nào có thể chuyển tải hoàn toàn ý nghĩa của từ ngữ Prajñā.

Pāramitā: Pāram có nghĩa là ở ngoài, ra ngoài, ở một bên bờ, ở thế giới bên kia. Đuôi Ita có nghĩa là đã qua rồi, đã đến rồi. Hán phiên âm là Ba-la-mật và dịch là “độ khứ”- tức là đã vượt qua, hoặc “đáo bỉ ngạn” là đến bờ bên kia. Pāramitā, Hán còn dịch là cứu cánh hoặc viên mãn, tứclà hoàn thành mục đích và viên mãn là sự toàn vẹn mục đích. Có khi dịch là Độ vô cực, chí cực, viên mãn, v.v… Anh ngữ Kim Cương của Ed. Conze dịch Pāramitālà perfection, có nghĩa là sự hoàn thiện, sự toàn vẹn, sự trọn vẹn, sự tuyệt đích, sự tuyệt diệu…

Như vậy, Pāramitā là đã vượt ra khỏi vũng đầm lầy sanh tử và đã đến sự tịch tĩnh siêu việt. Nói theo nghĩa bóng thì Pāramitā là đã siêu việt không gian và thời gian, siêu việt thế gian, siêu việt mọi ấn tượng và thành tựu sự viên mãn của Niết Bàn. Đã đạt đến toàn vẹn, đạt đến chỗ hoàn thành tuyệt diệu, chỗ ấy không còn ngôn ngữ để diễn tả, không thể dùng khái niệm để khái niệm.

Vượt qua hay đến bờ bên kia đều là ngôn ngữ ẩn dụ mang tính biểu tượng. Bờ bên này là dụ cho sinh tử, mê lầm, lang thang trôi nổi,…Bờ bên kia là dụ cho Niết Bàn, giải thoát. Hễ ai vượt qua vũng lầy sanh tử, sông khát ái, vô minh thì đạt đến Niết Bàn và và người đó người đó, thành tựu pháp tối thượng hiếm có đệ nhất.[29]

Ghép chung lại, Prajñāpāramitā là trí tuệ toàn vẹn, trí tuệ tuyệt đích, trí tuệ tuyệt diệu, trí tuệ siêu việt, trí tuệ siêu niệm, trí tuệ không còn có khái niệm của ngôn ngữ. Tạng ngữ dịch là: ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ།:  Tuệ giác toàn vẹn vượt qua đến bờ bên kia.

Phạn ngữ Sūtra, có nghĩa là quan hệ và thấu suốt. Hán chuyển âm Tu-đa-la và dịch là tuyến, gồm những sợi chỉ xâu lại với nhau, hoặc dịch là Khế Kinh.

Tạng ngữ dịch là མདོ་སྡེ།, có nghĩa là bộ tập hợp các bài thuyết giảng (của đức Phật), có thể dịch từ này sang anh ngữ là sets of discourses, anh ngữ cũng dùng các từ tương đương như: sutra, the sutras.

Sūtra, các Hán bản Kinh Kim Cương phần nhiều dịch là Kinh, một vài trường hợp trong bản Phạn – Tạng dùng từ Dharmaparyāyaḥ  hay  ཆོས་ཀྱི་རྣམ་གྲངས། (Pháp Thoại, Pháp bản) để thay thế cho từ Sūtra - མདོ་སྡེ། (Kinh điển)[30].

Luận sư Phật học Trung Hoa thông thường giải thích Sūtra có ba ý nghĩa, năm đặc tính và phân chia thành mười hai hoặc chín thể loại.

Ba ý nghĩa:

1-Khế lý: Kinh được đức Phật tuyên thuyết, Kinh ấy, thích hợp với chân lý.

2-Khế thời: Kinh được đức Phật tuyên thuyết, Kinh ấy, thích hợp mọi thời đại.

3-Khế cơ: Kinh được đức Phật tuyên thuyết, Kinh ấy, thích hợp mọi không gian và trình độ.

Năm đặc tính:

1-Xuất sanh: Tất cả mọi nghĩa lý của Luật và Luận đều xuất phát từ Kinh.

2-Tuyền dõng: Kinh hàm ngụ những nghĩa lý sâu thẳm và lưu thông tương tự như dòng nước chảy.

3-Hiển thị: Nghĩa lý được nêu ra rõ ràng từ Kinh.

4-Thằng mặc: Nghĩa lý của Kinh làm chừng mực cho chúng sanh tu học.

5-Kết man: Nghĩa lý cô đọng tóm thâu, như dây xâu kết những bông hoa.

Giống như những điều được diễn thuyết bởi chư Phật quá khứ là bất biến; Tại sao nó bất biến, vì mười hai thể tài kinh điển đã được chư phật quá khứ thuyết giảng để hóa độ chúng sinh; thời đức Thích Ca Như Lai ngài cũng đã diễn nói Như vậy,...[31]. Ta có thể tạm vay mượn những lời như vầy ở trong kinh Đại Bát Niết Bàn để nói về mười hai thể loại kinh điển.

Mười hai thể loại hay thể tài kinh điển, Sanskrit gọi là dvādaśāṅga-buddha-vacana, Hán dịch là “thập nhị bộ Kinh hoặc “Thập nhị phần thánh giáo” . Gồm mười hai thể loại sau:

1. Sūtra: Phiên âm là Tu-đa-la, dịch là Trường hàng , Khế kinh , cũng gọi là Pháp-bổn: do Đức Phật thuyết ra và đã được kết tập theo lối văn xuôi, nên gọi là Trường hàng. Và chính nó là căn bản của giáo pháp, nên gọi là Pháp bổn.

2. Geyyā: Phiên âm là Kỳ-dạ, dịch là Trùng Tụng , còn dịch là Ứng tụng. Loại kệ có tiết điệu, lối văn trùng thuật lại những ý nghĩa của văn Trường hàng. Thường dùng bốn câu làm một bài, trong đó có khi bốn chữ, năm chữ, bảy chữ, tám chữ v.v..

3. Veyyākaraṇa: phiên âm là Hòa-già-la, dịch là Ký biệt hoặc thọ ký . Loại Kinh viết theo cách ấn chứng. Chẳng hạn, Đức Phật ấn chứng cho các đệ tử Thanh Văn và Bồ Tát sẽ làm Phật trong tương lai và gồm có y báo, chánh báo của những vị đó.

4. Gāthā: phiên âm là Già-đà, dịch là Phúng tụng hay Cô khởi . Loại Kinh viết bằng những kệ tụng và mỗi kệ tụng có bốn câu. Loại này không phải như loại Kỳ-dạ dùng để trùng tụng lại Trường hàng, mà chính nó hình thành từng bài kệ tự lập.

5. Udāna: phiên âm là Ưu-đà-na, dịch là Tự thuật, Tự thuyết hoặc Vô vấn tự thuyết. Loại Kinh ghi lại theo lối tự thuật do Đức Phật quán sát đúng thời điểm hoặc đúng căn cơ Ngài tự diễn thuyết, chứ không cần phải có sự thưa hỏi của hàng đệ tử, v.v..

6. Nidāna: phiên âm là Ni-đà-na, dịch là Nhân duyên . Loại Kinh nói về sự gặp gỡ nghe pháp giáo hóa giữa Đức Phật Thích Ca với chư Phật quá khứ và giữa những hàng đệ tử cùng với túc duyên của họ.

7. Avadāna: Phiên âm là A-ba-đà-na,  dịch là Thí dụ . Loại Kinh nêu lên những thí dụ. Vì giáo pháp Đức Phật giảng dạy có khi thực tiễn, có khi sâu thẳm siêu việt. Do sâu thẳm và siêu việt, nên cần phải dùng những thí dụ khiến người nghe mới có thể tiếp thu được.

8. Itivṛttaka: phiên âm Y-đế-mục-đà-già, dịch là Bổn sự . Loại Kinh nói về công hành về sự tu nhân của Đức Phật và các hàng đệ tử.

9. Jātaka: phiên âm là Xa-đà-già, dịch là Bổn sanh . Loại Kinh nói về quá khứ, khi Đức Phật thực hành Bồ Tát đạo cũng như các vị thánh đệ tử của Ngài và các vị Bồ Tát.

10. Vedalla: Phiên âm là Tỳ-phật-lực; dịch là Phương quảng . Loại Kinh viết theo ngôn ngữ biểu tượng hàm chứa những ý nghĩa sâu rộng ở đằng sau ngôn ngữ ấy.

11. Abbhutadharma: phiên âm là A-tỳ-đạt-ma, dịch là Vị tằng hữu . Loại Kinh ghi lại những tư tưởng hay thần lực bất tư nghì của Đức Phật trong khi thuyết pháp và giáo hóa.

12. Upadeśa: phiên âm là Ưu-ba-đề-xá, dịch là Luận nghị. Loại Kinh ghi lại những sự biện luận và vấn đáp. Đôi khi Upadeśa còn được hiểu là bí mật.

Trong một bài Kinh (Sūtra) có thể có từng đoạn được xem là Sūtra (trường hàng), một Geyyā (trùng tụng), mộtGāthā (kệ tụng), một Udāna (tự thuyết), hay một Veyyākaraṇā (thọ ký)[32]

Sự phân chia kinh điển thành mười hai thể loại, không phải là sự phân chia có tính cố định và độc nhất. Điều này ta có thể chứng minh qua Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận[33] chỉ có chín thể loại: Tu-đa-la (Sūtra), Kỳ dạ (Geyyā), Hòa-già-la (Veyyākaraṇa), Già-đà (Gāthā), Ưu-đà-na (Udāna), Ni đà na (Nidāna), Tỳ-phật-lực (Vedalla), Vị tằng hữu (Abbhutadharma) và A-tỳ-đạt-ma/Luận nghị (Upadeśa).

Kinh Pháp Hoa cũng đồng quan điểm với Thập Trụ Tỳ Bà Sa phân loại có chín thể tài kinh điển, nhưng sự sắp xếp thứ tự có một số khác biệt: “सूत्राणि भाषामि तथैव गाथा इतिवृत्तकं जातकमद्भुतं च। निदान औपम्यशतैश्च चित्रै- र्गेयं भाषामि तथोपदेशान् - sūtrāṇi bhāṣāmi tathaiva gāthā itivṛttakaṃ jātakamadbhutaṃ ca| nidāna aupamyaśataiśca citrai- rgeyaṃ ca bhāṣāmi tathopadeśān[34]: Tu-đa-la (khế kinh), Già-đà (cô khởi), Y-đế-mục-dà-đà (bổn sự), Xà-đà-già (bổn sanh), A-tỳ-đạt-ma (vị tằng hữu), Ni-đà-na (nhân duyên), A-ba-đà-na (thí dụ), Kỳ-dạ (trùng tụng) và Ưu-ba-đề xá (luận nghị).

Sở dĩ, có sự sai biệt này, là tùy theo phương tiện nghệ thuật thuyết giáo của Đức Phật, đối với căn cơ thính chúng, đó là ngài vận dụng “tục đế” trong Nhị đế, hay “Vị nhân tất đàn” trong Tứ tất đàn, nên có Kinh, Thế Tôn sử dụng đủ cả muời hai thể loại văn pháp để trình bày giáo nghĩa, nhưng có Kinh, Ngài chỉ sử dụng chín, hoặc tám thể tài. Đó là tinh thần phương tiện quyền xảo của các Đức Như Lai, chứ không hề có sự mâu thuẫn, đối kháng nào cả.


III/TIỂU KẾT

Vajracchedikāprajñāpāramitā-Sūtra hay འཕགས་པ་ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་རྡོ་རྗེ་གཅོད་པ་ཞེས་བྱ་བ་ཐེག་པ་ཆེན་པོའི་མདོ là Pháp bản, là pháp thoại diễn thuyết về Tuệ giác siêu việt, về trí tuệ chặt đứt mọi ấn tượng về ngã, về bổ-đặc-già-la, về chúng sinh, về thọ giả và sự khát ái. Tuệ giác đó nó kiên cố và bất hoại giống như như viên Kim cương, hay sắc bén như Kim Cương Chùy, có khả năng chặt đứt và đánh tan những vật cản chướng ngại khác trên lộ trình đi đến Tuệ giác tối thượng, thể nhập thể tính bất sanh, bất diệt, bất thường, bất đoạn, bất lai, bất khứ, bất nhất và bất dị của Niết-bàn[35].

Ở trong Vajracchedikāprajñāpāramitā-Sūtra Kinh Năng Đoạn Kim Cương Bát-nhã Ba-la-mật này, Thế Tôn đã sử dụng mười thể loại văn pháp kinh điển để diễn tả, tuyên thuyết giáo nghĩa “nan tư nghị”; ở trong Kinh văn Kim Cương Phạn-Tạng và một vài tụng bản tương đương đều có trình bày  đầy đủ mười loại văn pháp này, mà ở tiếp theo sau phần này chúng ta sẽ thấy rõ.

[Trích phần GIỚI THIỆU VÀ TỔNG LUẬN, Năng Đoạn Kim Cương Bát-nhã Ba-la-mật, Phước Nguyên dịch và chú các bản Phạn-Anh-Hán, nguồn tham chiếu y cứ bản trên bản Tạng ngữ, các bản Anh-Hán dịch-chú tương đương]

 Nguồn: thuvienhoasen.org

THƯ MỤC THAM KHẢO

  1. Các Tụng bản Kinh Kim cương, và bản Hán Tạng trích dẫn theo Taishō Edition of Chinese Tripiṭaka 大正新脩大藏經 Đại chánh tân tu Đại tạng kinh, có đánh số trang, số tập ở phần cước chú. Dẫn: Đại.
  2. Vaidya, Vajracchedikāprajñāpāramitā-Sūtra, P.L. (1961), , Buddhist Sanskrit Texts No. 17. P.75. Cf.Mahāyāna-sūtra-saṁgrahaḥ( part 1), The Mithila Institute of Post-Graduate Studies and Research in Sanskrit Learning, Darbhanga.
  3. Saddharmapuṇḍarīkasūtram, Upāyakauśalyaparivartaḥ. Buddhist Sanskrit Texts, No.6 p.189.
  4. Madhyamakāvatāra: Nhập Trung luận. Nguyên văn Trung Luận Sanskrit tồn tại trong Prasannapadā, Nguyệt Xứng (Candrakīrti) thích (Sanskrit nguyên điển, Tạng dịch Pek No. 5260)
  5. འཕགས་པ་ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་རྡོ་རྗེ་གཅོད་པ་ཞེས་བྱ་བ་ཐེག་པ་ཆེན་པོའི་མད (Năng Đoạn Kim Cương Kinh)
  6. དམ་ཆོས་པད་མ་དཀར་པོའི་མདོ dam chos pad-ma dkar po'i mdo (Chánh Pháp Hoa kinh)
  7. F.B Cowell, Buddhist Mahayana Texts, Oxford, the Clarendon Press, 1894, Part II, p.112.
  8. Aspects of Mahayāna Buddhism and its relation to Hinayāna Buddhism, N. Dutt, University Microfilms (1980).
  9. Vajracchedika prajñāpāramitā-sūtra, ed. Max Muller. Anecdota Oxoniensia, Aryaa series, voi.1, Part 1. 1811. Text pp.19
  10. Như Thật Phật Học Nghiên Cứu Thất biên trước tại thành phố Đài Bắc, 1995, quyển 05, pp.417-681.
  11. Gregory Schopen, The Manuscript of the Vajracchedika Found at Gilgit, An Annotated Transciption and Translation, trong Studies in the Literature of The Great Vehicle: Three Mahayana Buddhist Texts, Luis O. Gomez và Jonathan A. Silk, hiệu đính, Viện Đại Học Michigan xuất bản tại Ann Arbor, 1989.
  12. Patrick Carré, Fayard, collection : Trésors du bouddhisme, Paris, mars 2001. p.180 Contient : Le sutra du diamant. 
  13. Le Sûtra du diamant, traduit et annoté par Jin Siyan, édition bilingue chinois-français, You-feng, 2007.
  14. Maître Hsing-Yun (né en 1927), Sûtra du diamant, trad. et annotations par Jin Siyan, You-feng, 2011, p.101
  15. Edward Conze, Vajracchedikā Prajñāpāramitā, biên tập- dịch với giới thiệu và chú, Rome, Istituto italiano per il Medio ed Estremo Oriente, 1957, XII-113 p.
  16. Edward Conze, Buddhist Wisdom Books, containing the Diamond Sûtra and the Heart Sûtra, Londres, Allen & Unwin, 1958
  17. Nicolas Poppe, The Diamond Sutra, Three Mongolian versions of the VajracchedikāPrajnāpāramitā, Wiesbaden, O. Harrasowitz, 1971, VIII-230.
  18. Frances Wood và Mark Barnard, The Diamond Sutra, Londres, British Library, 2010, p.112
  19. Francis Wood và Mark Barnard Restoration of the Diamond Sutra [archive], IDP News, 2011-2012, no 38, p. 4–5
  20. VajracchedikāPrajñāpāramitāin Gilgit Manuscript of the Vajracchedikā”, in Gilgit Buddhist Manuscripts (Facsimile Edition), Part 7, reproduced by Prof. Raghu Vira and Lokesh Chandra (1974), New Delhi, pp. 1380-1393.
  21. Schopen, Gregory (1989), “The Manuscript of the Vajracchedikā Found at Gilgit,”in Studies in the Literature of the Great Vehicle: Three Mahāyāna Buddhist Texts, ed. byL. O. Gómez and J. A. Silk, Ann Arbor, pp. 89-139.
  22. Harrison, Paul & Watanabe, Shōgō(2006), VajracchedikāPrajñāpāramitā, BMSC vol. III, Hermes Publishing Oslo 2006.
  23. Williams ,Monier M.A. Williams , Sanskrit-English Dictionary, The Clarendon Press, Oxford.

[1] Buddhist Sanskrit Texts, No.17 p.75.

[2] Bát-nhã tam bách kệ, Cf. Perfection of Wisdom in 300 Linnes, La Somme du Grand Véhicule, E.Lamotte, 1939, p. 195.

[3] T08n0235, tr. 0748c17.

[4] T08n0238, tr. 0766c14.

[5] T08n0239, tr. 0771c21.

[6] Đệ Cửu Hội Năng Đoạn Kim Cương Phần, Đường, Huyền Tráng, Đại 7, tr.979.

[7] T08n0236b, tr.0757a22.

[8] F.B Cowell, Buddhist Mahayana Texts, Oxford, the Clarendon Press, 1894, Part II, p.112.

[9] Vajracchedika prajñāpāramitā-sūtra, ed. Max Muller. Anecdota Oxoniensia, Aryaa series, voi.1, Part 1. 1811. Text pp.19

[10] The Diamond-sutra, Edward Conze, London, 1957.

[11] Patrick Carré, Fayard, collection « Trésors du bouddhisme », Paris, mars 2001. 180 p. Contient : Le sutra du diamant ; Cf. Le Sûtra du diamant, traduit et annoté par Jin Siyan, édition bilingue chinois-français, You-feng, 2007 ; Maître Hsing-Yun (né en 1927), Exégèses sur le 'Sûtra du diamant', trad. et annotations par Jin Siyan, You-feng, 2011, p.101.

[12] Như Thật Phật Học Nghiên Cứu Thất biên trước tại thành phố Đài Bắc , 1995, quyển 05 từ trang 417-681., Xin xem thêm Gregory Schopen, “The Manuscript of the Vajracchedika Found at Gilgit, An Annotated Transciption and Translation”, trong “Studies in the Literature of The Great Vehicle: Three Mahayana Buddhist Texts” Luis O. Gomez và Jonathan A. Silk, hiệu đính, Nhà Xuất bản của Viện Đại Học Michigan xuất bản tại Ann Arbor, năm 1989, từ trang 92-94.

[13] Vajracchedikā Prajñāpāramitā-sūtra, ed. Max Müller. Anecdota Oxoniensia, Aryan series, voi. l, part 1. 1811. Text pp. 19-46. Dẫn theo chú thích trong The Diamond-sutra của Edward Conze.

[14] Vajracchedikā Prajñāpāramitā,  Edward Conze, London, 1957.

[15] Buddhist Sanskrit Texts, No.17 p.77.

[16] Cf. འཕགས་པ་ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་རྡོ་རྗེ་གཅོད་པ་ཞེས་བྱ་བ་ཐེག་པ་ཆེན་པོའི་མདོ།.

[17] T08n0235, tr. 0750a13. Tham chiếu Huyền Tráng dịch tương đương Đại 08, tr. 754b10: 說是語已, 具壽善現復 白佛言:「世尊, 當何名 此法門, 我當云何奉持?」作是語已, 佛告善現言: 「具壽,今此法門名為 『能斷金剛般 若波羅蜜多』。  如是名字,汝當奉持。何以故?善現,如是般若波羅蜜多,如來 為非般若波羅蜜多, 是故如來 說名般若波羅蜜多。」Bản dịch Nghĩa Tịnh không có đoạn tương đương.

[18] Skt. Dharmaparyāyaḥ: dịch là Pháp Thoại, Pháp bản thì sát với phạn văn hơn. Phần nhiều Hán dịch là Kinh , Lưu chi và Huyền Tráng đều dịch là Pháp môn 法門 (Đại 08, tr. 754b10; Đại 07,  tr. 768c13). Cấp Đa (Đại 08, tr.768c13): pháp bản 法本.

[19] Phiên âm Hán ngữ đoạn này: “Nhĩ thời, Tu-bồ-đề bạch Phật ngôn : « Thế Tôn, Đương hà danh thử kinh, ngã đẳng vân hà phụng trì » Phật cáo Tu-bồ-đềthị kinh danh vi “Kim cương Bát-nhã Ba-la-mật”.  Dĩ thị danh tự nhữ đương phụng trì. Sở dĩ giả hà? Tu-bồ-đề Phật thuyết Bát-nhã ba-la-mật tắc phi Bát-nhã Ba-la-mật.” Cf. T08n0235, tr. 0750a13.

[20] Edward Conze, Vajracchedikā Prajñāpāramitā, biên tập- dịch với giới thiệu và chú, Rome, Istituto italiano per il Medio ed Estremo Oriente, 1957, XII-113.

[21] No.17, p.75.

[22] TRANSCRIPTION: pakpa sherap kyipa röltu chinpa dorjé chöpa zheja batek pa chen pömdo.

[23] Cf. Vajra., No.17, p.78: “ārya-vajracchedikā bhagavatī prajñāpāramitā samāptā || འཕགས་པ་ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་རྡོ་རྗེ་གཅོད་པ་ཞེས་བྱ་བ་ཐེག་པ་ཆེན་པོའ་ིམདོ་རྫོགས་སོ།། །།

[24] Dẫn Đại chánh, Kim cương Bát-nhã, Tử Tuấn.

[25] Skt. Atmasaṃjñā: ấn tưởng, khái niệm hay ý tưởng về ngã.  Ngã , Skt. Ātman là thuật ngữ quan trọng củaUpanisad  Vedāna, được dùng để diễn tả về tự ngã, thần chủ, thần ngã, thần linh hay linh hồn…  Ātman có động từ căn Van (hơi thở). Saṃjñā: Saṃ tiếp đầu ngữ: hết thảy, tập hợp, tất cả v.v… căn jñā có nghĩa là: ý niệm, khái niệm, ấn tượng, tư tưởng, hiểu biết v.v.. ở đây đúng sát theo nghĩa Phạn văn nên chọn là là tập hợp những ấn tượng, ý tưởng hay khái niệm. La Thập dịch là Ngã tướng . Nếu dùng (lakṣaṇa –tướng)thì dễ bị hiểu lầm là hình tướng hay sắc tướng… Hán dịch Kim Cương chỉ có La Thập và Cấp Đa dịch là tướng, còn lại đều dịch là tưởng.

[26] Skt.Pudgalasaṃjñā, Hán phiên âm: Bổ-đặc-già-la. Dịch là con người, hay sĩ phu. Những khí chất kết nên nhân cách con người, gọi là nhân hay sĩ phu.

[27] Skt. Sattvasaṃjñā: Sattva, từ giống đực, được thành lập từ động từ Saint, hiện tại phân từ của nó có nghĩa là “sự tồn tại” hay “sự hiện hữu” (to be hay being) và được giải thích là một chúng sinh hay hữu tình.  Một số nhà Phạn ngữ từ điển viết là sakta, như vậy nó được hình thành từ động từ căn Sanj, có nghĩa là: liên kết, nối kết, gắn bó, miệt mài, gắn chặt v.v.. Trong Pāli ngữ Satta nó có nghĩa là một chúng sinh, một hữu tình hay một con người, đồng nghĩa với དཔའ་ dpa’ của Tạng ngữ, nghĩa là một anh hùng (hero), một người dũng cảm (intrepid person),  một chiến sĩ tâm linh (heroic spirit) v.v..

[28] Skt. Jīvasaṃjñā. Jīvasa: thọ giả hay mệnh giả, có động từ Jīva: cá thể, chủ thể… nên Jīvasa: cá thể có sinh mạng hay chủ thể của nhân cách. Cf. Cát Tạng (Kim cương bát nhã sớ Đại 33, No 03) giải thích: “ .. Ngoại đạo chấp có thần ngã, chết nơi này sinh nơi khác, lang thang sáu đường, cho nên gọi Thọ giả”. Theo Khuy Cơ (Kim cương bát nhã kinh tán thuật quyển thượng, Đại 33, No 131): “Thấy mệnh căn đoạn diệt ở quá khứ, đời sau sinh trong sáu đường, gọi là Thọ giả tướng”. Ngoài ra, Đại phẩm bát nhã (Huyền Tráng dịch, Đại 7, No 02) ghi: “… danh từ Thọ giả là một trong mười sáu tên gọi khác của Ngã”.

[29] Định cú Sanskrit: “Parameṇa te subhūte āścaryeṇa samanvāgatā bhaviṣyanti”: Họ là những người thành tựu công đức hiếm có tối thượng. Buddhist Sanskrit Texts, No.17 p.76.

[30] Dẫn thượng, xem Cht.20.

[31] Đại 12, Đại Bát Niết Bàn Kinh, q. 18, tr. 478ab.

[32] Tham chiếu Aspects of Mahayāna Buddhism and its relation to Hinayāna Buddhism, N. Dutt, University Microfilms, 1980.

[33] Đại 26, tr.69b.

[34] Saddharmapuṇḍarīkasūtram, Upāyakauśalyaparivartaḥ, Kệ 45. Cf. དམ་ཆོས་པད་མ་དཀར་པོའི་མདོ dam chos pad-ma dkar po'i mdo,C.II; 妙法蓮華經, 後秦龜茲國三藏法師鳩摩羅什奉 詔譯, T09n0262, tr. 0001a01; Burnouf , Le Lotus De La Bonne Loi, Paris, Imprimerie Nationale, 1852.  Kern, H. Saddharma Pundarîka or the Lotus of the True Law, Oxford 1884 (Clarendon Press) Sacred Books of the East, Vol. XXI, New York 1963 (Dover), Delhi 1968.

[35] Cf. MMV.I.i. (Madhyamakāvatāra): “anirodham anutpādam anucchedam aśāśvataṃ | anekārtham anānārtham anāgamam anirgamaṃ || yaḥ pratītyasamutpādaṃ prapañcopaśamaṃ śivaṃ | deśayāmāsa saṃbuddhas taṃvande vadatāṃ varaṃ ||”.

 

GIỚI THIỆU LỊCH SỬ TRUYỀN DỊCH – CHÚ KINH PHÁP HOA (SADDHARMAPUNDARĪKASŪTRA)

 
image
Cho đến nay, người ta vẫn chưa biết chính xác bản kinh Pháp Hoa này được thiết lập khi nào, ở đâu và được ghi lại bằng ngôn ngữ nào trước hết. Có thể đầu tiên nó được ghi bằng một thổ ngữ miền Trung Ấn, sau được chép lại bằng Phạn ngữ cho được trân trọng hơn.

Bấy giờ, thời Thế Tôn tại thế, các đệ tử của ngài có nhiều sắc dân khác nhau, nên lúc chưa nhập diệt, Thế Tôn thuyết pháp bằng nhiều loại thổ ngữ. Và ngôn ngữ được Ngài sử dụng nhiều nhất là Magādhi, vì đây là sắc dân chính và đa số là đệ tử của Ngài.

Vì vậy, trong các hội nghị kết tập kinh điển một, hai và ba, phần nhiều đều sử dụng ngôn ngữ Magādhi để kết tập. Nên, bước đầu truyền bá và khẩu dịch kinh điển, Tăng đoàn phần nhiều sử dụng ngôn ngữ Magādhi này. Như thế, kinh điển Nguyên thủy khởi đầu bằng tiếng Magādhi vào thời đại vua A Dục và hoàn chỉnh bằng truyền tụng mà không phải bằng văn bản.

Kinh tạng này truyền đến xứ Avanti (A-bàn-đề), trên bờ phía bắc sông Narmada,thì tại đây hai loại ngôn ngữ Magādhivà Avanti đã phối hợp với nhau tạo thành ngôn ngữ Pāli phôi thai. Và kinh điển Nguyên thủy bằng Magādhi đã được dịch ra bằng tiếng Pāli phôi thai này tại xứ Ujjayini (Ô-xa-diễn-ni), thủ phủ của Avanti (A-bàn-đề). Từ Avanti, Ngài Mahinda - hoàng tử của vua A Dục là học trò của Ngài Ca Chiên Diên mang tạng kinh khẩu dịch bằng Pāli phôi thai này đi thuyền dọc theo vịnh Oman đến truyền bá tại Tích Lan.

Và cũng từ thủ phủ Ujjayini của xứ Avanti, kinh tạng khẩu truyền bằng tiếng Magādhi lại được truyền lên phương Bắc, tiếp giáp với Ngũ Hà nơi thổ ngữ Prakrit, đây là loại thổ ngữ cổ của Sanskrit. Tại vùng Ngũ Hà này, một số kinh điển được dịch ra bằng tiếng Prakrit. Ngày nay, các nhà khảo cổ học, sử học đã phát hiện ra nhiều bản kinh nguyên thủy được ghi lại bằng ngôn ngữ này trên lá bối.

Kinh tạng Nguyên thủy bằng ngôn ngữ Magādhi lại truyền tụng đến vùng Kashmir, là nơi quê hương của cổ ngữ Vēda (Vệ-đà). Phái Hữu bộ đã lập căn cứ hoằng pháp tại đây vào thời vua A-dục, khoảng thế kỷ thứ III trước Tây lịch. TạiKashmir, tiếng Sanskrit cổ đã được gạn lọc và chuyển hóa thành loại Sanskrit thuần. Các Tăng sĩ đã sử dụng loại Sanskrit thuần này để phiên dịch và san định lại kinh điển, gọi là Agāma (kinh Tạng A-hàm).

Tuy nhiên, hiện nay các nhà sử học và khảo cổ học cũng đã phát hiện ra nhiều bản kinh tạng nguyên thủy bằng tiếng Sanskrit tạp chủng. Còn tạng kinh nguyên thủy Pāli, tuy đã được truyền thừa từ xứ Avanti đến Tích Lan bởi Ngài Mahinda thời vua A Dục, nhưng phải đến thời Ngài Buddhaghoṣa (Phật Âm) ra đời vào khoảng thế kỷ thứ V, Tây lịch mới san định bằng văn bản Pāli hoàn chỉnh và mệnh danh là Nikāya.

Bộ kinh Pháp Hoa cổ nhất được tìm thấy năm 1932 ở Kashmir, gồm 2/3 chữ Phạn và 1/3 chữ Magādhi cho phép ta có cơ sở phỏng đoán điều này. Dầu trên truyền thuyết cho rằng các người con của Vua A Dục, sống 100 năm trước Tây lịch, đã đem kinh Pháp Hoa truyền bá đến những vùng thuộc Trung đông và Trung Á v.v…điều chắc chắn nhất mà ta có thể nói là, ít nhất kinh này này xuất hiện vào năm 225 sau Tây Lịch, năm mà bản kinh tiếng Hoa được dịch ra đầu tiên. Hiện nay ta có trên 20 thủ bản kinh Pháp Hoa chép bằng tiếng Phạn, lần lượt được các nhà Phật học người Anh, Nhật , Đức và Pháp tìm thấy ở Népal, Trung Á, Kotan và Kucha (quê hương ngài Cưu Ma La Thập).

Một số thủ bản hình như được chép lại vào khoảng thế kỷ 11 hoặc trễ hơn. Một số có vẻ được chép vào thế kỷ thứ 5 hoặc 6. Những thủ bản Phạn này khác biệt đáng kể so với bản Hán dịch của Ngài Cưu Ma La Thập. Chúng thường dài hơn. điều này cho thấy, bản mà Ngài La Thập sử dụng để dịch có sớm hơn và gần với nguyên bản hơn. Năm 1913, Kerne và Najo Fumio dựa vào các Phạn bản cũng như các đoạn phiến tìm thấy ở các nước mà so sánh đối chiếu rồi soạn thành bản Saddharmapuṇḍarīkasūtra.

I. KINH VĂN

I.1.  Phạn – Tạng bản

Kinh Pháp Hoa Phạn bản, hiện có đầy đủ nhất tên tiếng Phạn là सद्धर्मपुण्डरीकसूत्रम् Saddharmapuṇḍarīkasūtra được lưu trữ trong Buddhist Sanskrit Texts[1], do Kerne và Najo -Fumio dựa vào các Phạn bản cũng như các đoạn phiến tìm thấy ở các nước mà so sánh đối chiếu rồi biên tập thành.

Bản thứ hai, là Saddharmapuṇḍarīka-sūtra được chuyển âm La-tin do Prof.U.Wogihara và C. Tsuchida biên tập và hiệu chú cẩn thận, cước chú với Nhật, Hán và Tạng ngữ[2].

Tạng bản, hiện chỉ mới tìm thấy trong Đại Tạng Kinh Tây Tạng một bản dịch Pháp hoa với nhan đề: “དམ་ཆོས་པད་མ་དཀར་པོའི་མདོdam chos pad-ma dkar po'i mdo”.

I.2. Hán bản

Bản đầu tiên do Chi Khiêm dịch vào năm 225 – 253, thời Tam Quốc, từ năm Hoàng võ thứ 2 đời Tôn Quyền, đến năm Kiến Phong thứ 2 đời Tôn Lượng. Bản này chỉ có phẩm Thí dụ, tên là “Phật dĩ Tam Xa Hoán Kinh”, một quyển.

Sau đó có 7 bản dịch khác nhưng thực ra bây giờ chỉ còn tồn tại 5 bản:

- Pháp Hoa Tam Muội Kinh 6 quyển do Cương Lương Tiếp (Kalasivi) dịch năm Ngũ Phượng thứ 2 (255 TL) đời Tôn Lượng.

- Tát-đàm Phân-đà-lị Kinh, 6 quyển, do Pháp Hộ dịch lần đầu vào năm Tần Thủy ( 265 TL), đời Tây Tấn[3].

- Chính Pháp Hoa Kinh, 10 quyển cũng do Pháp Hộ dịch lần cuối vào năm thứ 7, niên hiệu Thái Khang (286 TL) đời Tây Tấn[4].

- Phương đẳng Pháp hoa kinh, 5 quyển do Chi Đạo Căn dịch, năm đầu Hàm Hanh (33 TL) đời Đông Tấn.

- Diệu Pháp Liên Hoa kinh, 7 quyển sau đổi thành 8 quyển do Cưu Ma La Thập (Kumaraiva) dịch vào năm Hoằng Thỉ thứ 8 (406) đời Diêu Tần[5].

- Phật Thuyết Pháp Hoa Tam Muội Kinh, 1 quyển, do Trí Nghiêm dịch vào thời Lưu Tống (420-479)[6].

- Thiêm Phẩm Diệu pháp Liên Hoa Kinh, 7 quyển do Xà-na-quật-đa (Nanagupta) và Đạt Ma Cấp Đa (Dharmagupta) dịch năm đầu Nhân Thọ đời Tùy (601 TL)[7].

Bản của Ngài La Thập thiếu nửa phần đầu của phẩm Dược Thảo Dụ, thiếu phần đầu của Phẩm Pháp Sư, Thiếu Phẩm Đề Bà và phần kệ tụng của phẩm Phổ Môn. Sau này dựa vào bản Bối Diệp do Ngài Hốt Đa mang sang mà dịch bổ sung thêm vào.

Hiện ta còn ba bản lưu truyền rộng rãi là Chính Pháp Hoa, Diệu Pháp Liên Hoa và Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Nội dung ba bản này có sai khác nhau đôi chút. Diệu bản giản dị, Thiêm Phẩm nhiều hơn, còn Chính bản rất chi tiết.

Theo lời tựa của Thiêm Phẩm, thì ba bản dịch trên đều dùng đề bản khác nhau:

Bản Ngài La Thập dịch gồm 6000 kệ, được tàng trữ tại cung vua nước Kế Tân (Karmir).

Bản Ngài Pháp Hộ dùng gồm 6500 kệ, trữ tại cung vua nước Vi điền (Kotan).

Còn bản của Quật Đa (Hốt-đa) gồm 6200 kệ, chưa rõ được lưu trữ ở đâu.

Trong ba bản dịch này bản của Ngài Cưu Ma La Thập dịch được thông dụng hơn cả.

I.3. Pháp và Anh Bản

Ở Phương Tây, người ta biết đến Kinh Pháp Hoa xuất phát từ Phạn ngữ sớm nhất, qua bản dịch Pháp ngữ: Le Lotus De La Bonne Loi, do Burnouf dịch từ nguyên bản tiếng Phạn, công bố và in lần đầu vào năm 1852[8]. Sau đó, lần xuất bản phổ biến rộng rãi nhất trên thế giới vào năm 1976, đã được nhiều học giả lớn đánh giá và ca ngợi.

Bản dịch tiếng Pháp thứ hai gần đây, là bản dịch từ Hán bản của ngài La Thập, với nhan đề: Le Sutra Du Lotus, do giáo sư người Pháp Jean - Noel Robert phiên dịch 2001[9].

Bản Anh Dịch, The Lotus of the True Law, Do Kern, dịch từ bản Phạn văn Népal, năm 1880, gồm có 27 phẩm, hiện có ở trong The Sacred of the East[10]. Bộ kinh này được đưa vào quuyển thứ 21 trong pho sách “Đông Phương Thánh Thư” (sacred Books of the East).

Anh dịch, The Essence of the Lotus Scripture[11] của: bộ này là lược dịch từ bản chữ Hán của Ngài La Thập, gồm có 28 phẩm, hiện nằm trong bộ The New Test Ament of High Buddhism của Lichard, xuất bản năm 1900.

The Lotus of the Wonderful Law[12] (The Lotus Gospel): Do hai học giả W. E. Soothill và Bunno Kato dịch từ Hán bản La-thập, gồm có 28 phẩm, xuất bản tại London năm 1930.

The Sutra of the Lotus Flower of the Wonderful Law[13]: Do Murano Senchū dịch từ bản Hán của Ngài La Thập, Nhật Liên Tông tại Tokyo, xuất bản 1974.

Bộ tập hợp ba dịch về Kinh Pháp Hoa do các học giả: Kato Bunno; Tamura Yoshirō; và Miyasaka Kōjirō; với nhan đề chung là The Threefold Lotus Sutra[14] bao gồm: The Sutra of Innumerable Meanings; The Sutra of the Lotus Flower of the Wonderful Law và The Sutra of Meditation on the Bodhisattva Universal Virtue, xuất bản năm 1975 do WeatherhillKōsei Publishing ấn hành tại hai địa điểm là New York và Tōkyō.

Bản Anh dịch tiếp theo của Hurvitz, Leon, với nhan đề: Scripture of the Lotus Blossom of the Fine Dharma (The Lotus Sutra)[15]. Dịch từ bản Hán La Thập, có đối chiếu với Phạn bản, bổ khuyết những đoạn bị thiếu. Bản này xuất bản lần đầu tại New York, năm 1976. Nhiều được học giả thế giới biết đến và đánh giá cao.

Bản dịch Anh ngữ của Kuo-lin LethcoeThe Wonderful Dharma Lotus Flower Sutra with the Commentary of Tripitaka Master Hsuan Hua[16],  được dịch từ Bản Hán của La-thập kèm theo lời giải thích của Hòa thượng Tuyên Hóa, các văn bản được của Buddhist Text Translation Society, xuất bản lần đầu tại San Francisco, năm 1977.

Anh bản của học giả Burton Watson dịch từ  bản Hán của Ngài La Thập, với nhan đề: The Lotus Sutra[17], xuất bản tại New york, năm 1993.

Tsugunari KuboAkira Yuyama Numata dịch bản Hán của La-thập, với nhan đề: The Lotus Sutra[18], do Center for Buddhist Translation and Research xuất bản, năm 2007.

Bản anh dịch cuối cùng hiện có, gần đây nhất, được phát hành rộng rãi, của Gene Reeves, với tựa đề The Lotus Sutra[19], in ở Boston, 2008. Gene Reeves là một nhà triết học về tôn giáo đã giảng dạy tại Đại học Tsukuba, Đại học Rikkyo, và Đại học Renmin của Trung Quốc. Ông cũng là một nhà tư vấn để Rissho Kosei-kai và các Niwano Peace Foundation. Bản dịch của ông được đánh giá cao về sự kỹ lưỡng về ngôn ngữ.

I.4. Nhật ngữ

- Bản dịch củaしまじ だいとう (Daitō Shimaji 島地大等 ),  Pháp Hoa Tam Bộ Kinh Giải Đề  , năm 1974, gồm có ba bản kinh: Vô lượng nghĩa   ; Diệu Pháp Liên Hoa Kinh     ; Quán Phổ Hiền Bồ-tát hành pháp kinh 觀普賢菩薩行法經.[20]

- Quốc dịch Nhất Thiết Kinh Ấn Độ soạn thuật bộ Pháp Hoa Bộ,  国訳一切経 印度撰述部 法華部, Nhà xuất bản Daito (大東出版社), năm 1928.

- Pháp Hoa Kinh   tập I & II, thuộc bộ Đại Thừa Phật Điển 大乗仏典  quyển 4 và 5, do  松濤誠廉 (Matsunami Seiren), Masato Nagao ながお がじん (1907-2005;    ) và Tanji Akiyoshi たんじ てるよし (   1932 - ... Trung Công Văn Khố 中公文庫,  dịch và chú, 2001-2002[21].

- Pháp Hoa Kinh 法華経, ba quyển thượng – trung –hạ (上--),  do Yutaka Iwamotoいわもと ゆたか (1910-1988; 岩本裕) và Sakamoto Yukioさかもと ゆきお( 1899-1973; 坂本幸男) dịch và chú, Iwanami Bunko いわなみぶんこ (岩波文庫), 1976

- Pháp Hoa Kinh 法華経, dịch hiện đại ngữ , thuộc bộ Đại Thừa Phật điển ( 大乗 典)Nakamura Original なかむら はじめ (1912-1999;中村元), Tokyo Shoseki とうきょうしょせき (東京書籍) xuất bản, 2003.

- Kinh Pháp Hoa, Phạn-Hán-Hòa đối chiếu ngữ 梵漢和対照現代語訳法華経, hai quyển thượng và hạ,  Ueki Masatoshi うえき まさとし(植木 雅俊、1951 - ....dịch và chú,  Iwanami Shoten いわなみしょてん (岩波書店) xuất bản,  2008.

- Pháp Hoa Kinh dịch Bản gốc Phạn ngữ sang hiện đại ngữ ンス , hai quyển thượng và hạ - ), Iwanami Shoten   ( ) xuất bản, 2015.

I.5. Bản dịch Tiếng Việt

Chúng tôi hiện chỉ được biết những bản sau đây:

Pháp Hoa Tam Muội Kinh, Đạo Hinh - Cương Lương Lương Tiếp dịch sang Hán tại Giao Chỉ, năm 258 và lưu truyền tại Việt Nam sớm nhất, văn bản của kinh đã bị thất lạc.

Quốc dịch Pháp Hoa Kinh, bản nôm, 1747. Minh Châu - Hương Hải (1628-1715), đã dịch và chú kinh Pháp Hoa đầu tiên bằng chữ nôm vào thời nhà Lê; Văn bản hiện còn có chép như sau: “Hương Hải Thiền Sư Ngữ Lục, Cảnh Hưng Bát Niên, Tuế Thứ Đinh Mão, Ngũ Nguyệt, Cát Nhật Từ Pháp Soạn Thuật – Cảnh Hưng 8 – 1747”, hiện được tồn giữ ở thư viện Hán-Nôm, Hà Nội.

Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, bản khắc gỗ, năm 1734. Minh Dung - Pháp Thông khắc in, đời vua Lê Thuần Tông (1732 – 1735). Bản khắc gỗ này hiện đang tồn giữ tại chùa Phật Quang, Phan Thiết.

Pháp Hoa Quốc Ngữ Kinh, bản giấy, năm 1929. Thế kỷ thứ XIX, Triều Tự Đức (1847 - 1883), Pháp Liên đã giải âm bản Hán Diệu pháp liên hoa kinh, Cưu Ma La Thập. Đề tựa là Pháp hoa quốc ngữ kinh, hoàn thành vào năm 1848 và in công bố lần đầu vào năm 1856. Văn bản hiện có, là bản in lại vào năm 1929, của “Tự chủ tự Huệ Lương” có ghi như sau: “Ngày trung tuần mùa hè năm giáp tý Khải Định thứ chín”, “Chùa bái Am xã Vũ hạ tổng Vọng lỗ huyện Phụ dực Thái ninh tỉnh Ninh Bình”.

Chánh Pháp Hoa Kinh, năm 1937, Đoàn Trung Còn đã dịch từ bản tiếng Pháp nhan đề là Le Lotus De La Bonne Loi, do Burnouf dịch từ nguyên bản tiếng Phạn[22]. Văn bản Việt dịch hiện có mất trang bìa, không rõ nhà in và xuất bản.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Thích Tuệ Hải dịch từ bản Hán của ngài La Thập, Ban Phát Hành Kinh Sách Chùa Vĩnh Nghiêm (số 339, Đại lộ Công lý,  Sài Gòn cũ, nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3) ấn hành, PL. 2516; Ban Dược Sư chùa Vĩnh Nghiêm, Tái bản 1972.

- Phẩm Thường Bất Khinh Bồ-tát, trong Kinh Pháp Hoa, Thích Trí Thủ dịch, Quảng Hương Tùng Thư, 1982.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Thích Trí Tịnh, dịch từ bản Hán của ngài Cưu Ma La Thập, Phật Học Viện Quốc Tế Xuất Bản 1988 - PL 2530. Được in tái bản đến nay đã rất nhiều lần, được sử dụng rộng rãi trong nhiều tu viện.

Kinh Chánh Pháp Hoa Sen, Thích Trí Quang, dịch và lược giải, từ bản Hán của ngài Cưu Ma La Thập có đối chiếu Anh và Hán dịch,  Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, PL.2552, năm 1998.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Thích Nữ Thể Quán, dịch từ bản Hán của ngài Cưu Ma La Thập, Nhà Xuất bản Tôn Giáo, năm 200?.

Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh, Tập 34, có năm bản dịch Việt Pháp Hoa: “Tát Đàm Phân Đà Lợi Kinh (số 265, Đại Chính Tân Tu); Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, La Thập; Pháp Hoa Tam Muội Kinh, Trí Nghiêm (xứ Lương Châu); Chánh Pháp Hoa Kinh, Trúc Pháp Hộ và Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh của Xà Na Quật Đa và Cấp Đa”.  Hòa Thượng Thích Tịnh Hạnh Chủ trương, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản, năm 2000.

Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, Thích Đạo Thịnh hội tập, trọn bộ 12 quyển, Chùa Tân Viên, Xã Ba Vì, Tp. Hà Nội, Nhà xuất bản Thời đại, PL. 2556, TL.2012.

II. LUẬN GIẢI

II.1. Phạn văn

Hiện tại chúng tôi chưa tìm được trong Buddhist Sanskrit Texts những bản chú giải bằng Phạn văn mà chúng tôi được biết là đã từng tồn tại như sau như sau:

- Pháp Hoa Tích Luận của Ngài Nagārjuna (sống sau Phật nhập diệt 800 năm, khoảng 300 Tây Lịch)

- Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Ưu Ba Đề Xá và Pháp Hoa Luận do Ngài Thê Thân soạn.

Bản của ngài Thế Thân đã được dịch sang Hán văn hiện có hai bản[23], hiện có trong Đại Chánh Tạng Tân Tu[24].

II.2. Hán văn

Pháp Hoa Kinh Sớ, 2 quyển do Tăng Duệ và Đạo Sinh trước tác - Pháp Hoa Tông Yêu Tự, do Tuệ Quán soạn.

Thời  Lục Triều có hơn 70 nhà chú thích từ đời Hán đến đời Đường, trong khoảng 600 năm, có nhiêu tác phẩm chú thích Kinh Pháp Hoa, chúng tôi tìm thấy trong Đại Chánh Tạng Tân Tu và các Đơn hành bản biệt chú như sau:

Đại Tạng Kinh 33, số 1715, Pháp Hoa Nghĩa Kí 法華義記, 8 quyển, Lương, Pháp Vân soạn[25].

Đại Tạng Kinh 33, số 1716, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa 妙法蓮華經玄義, 10 quyển, Tùy, Trí Khải Thuyết.

Đại Tạng Kinh 33, số 1717, Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Thiêm 法華玄義釋籤, 20 quyển, Đường, Trạm Nhiên thuật[26].

Đại Tạng Kinh 33, số 1718, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú 妙法蓮華經文句, 10 quyển, Tùy, Trí Khải Thuyết[27].

Đại Tạng Kinh 34, số 1719, Pháp Hoa Văn Cú Kí 法華文句記, 10 quyển, Đường, Trạm Nhiên thuật[28].

Đại Tạng Kinh 34, số 1720, Pháp Hoa Huyền Luận 法華玄論, 10 quyển, Tùy,  Cát Tạng soạn[29].

Đại Tạng Kinh 34, số 1721, Pháp Hoa Nghĩa Sớ, 12 quyển, Tùy, Cát Tạng soạn[30].

Đại Tạng Kinh 34, số 1722, Pháp Hoa Du Ý 法華遊意, 1 quyển, Tùy, Cát Tạng tạo[31].

Đại Tạng Kinh 34, số 1723, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Tán 妙法蓮華經玄贊, 10 quyển, Đường, Khuy Cơ soạn[32].

Đại Tạng Kinh 34, số 1724, Pháp Hoa Huyền Tán Nghĩa Quyết, 1 quyển, Đường,Tuệ Chiếu soạn[33].

Đại Tạng Kinh 34, số 1725, Pháp Hoa Tông Yếu 法華宗要, Tân La, Nguyên Hiểu soạn[34].

Đại Tạng Kinh 46, số 1911, Ma Ha Chỉ Quán  摩訶止觀 (Luận về Chỉ và Quán theo Kinh Pháp Hoa), Tùy, Trí Khải thuyết, 20 quyển[35].

Đại Tạng Kinh 26, số 1519, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Ưu Ba Đề Xá 妙法蓮華經憂波提舍卷上, 2 quyển, Đại Thừa Luận Sư Bà Tẩu Bàn Đậu (Vasubandhu) Thích,  Hậu Ngụy, Bồ Đề Lưu Chi và Đàm Lâm dịch[36].

Đại Tạng Kinh 26, số 1520, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Luận Ưu Ba Đề Xá 妙法蓮華經論優波提舍, 1 quyển, Bà Tẩu Bàn Đậu (Vasubandhu) Bồ Tát tạo, Nguyên Ngụy Lặc Na Ma Đề và Tăng Lãng dịch[37].

Đại Tạng Kinh 19, số 1000, Thành Tựu Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Vương Du Già Quán Trí Nghi Quỹ, 1 quyển, Đường, Bất Không dịch[38].

Đại Tạng Kinh 19, số 1001, Pháp Hoa Mạn Đồ La Uy Nghi Hình Sắc Pháp Kinh, 1 quyển, Đường, Bất Không dịch[39].

Đại Tạng Kinh 85, số 2872, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Quảng Lượng Thiên Địa Phẩm Đệ Nhị Thập Cửu 妙法蓮華經度量天地品第二十九, 1 quyển, mất tên người dịch[40].

Đại Tạng Kinh 21, số 1292, Pháp Hoa Thập La Sát Pháp 法華十羅剎法, 1 quyển, mất tên người dịch[41].

Đại Tạng Kinh 85, số 2899, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Mã Minh Bồ Tát Phẩm Đệ Tam Thập 妙法蓮華經馬明菩薩品第三十, 1 quyển, mất tên người dịch[42].

Đại Tạng Kinh 40, số 1818, Pháp Hoa Luận Sớ 法華論疏, 3 quyển, Tùy, Cát Tạng soạn[43].

Đại Tạng Kinh 46, số 1926, Pháp Hoa Kinh An Lạc Hành Nghĩa 法華經安樂行義, 1 quyển, Trần Tuệ Tư thuyết[44].

Đại Tạng Kinh 46, số 1941, Pháp Hoa Tam Muội Sám Nghi 法華三昧懺儀, 1 quyển, Tùy, Trí Khải soạn[45].

Đại Tạng Kinh 46, số 1942, Pháp Hoa Tam Muội Hành Sự Vận Tưởng Bổ Trợ Nghi, 1 quyển, Đường, Trạm Nhiên soạn[46].

Đại Tạng Kinh 46, số 1943, Lược Pháp Hoa Tam Muội Bổ Trợ Nghi 略法華三昧補助儀并序, 1 quyển, mất tên người dịch[47].

Đại Tạng Kinh 46, số 1944, Lễ Pháp Hoa Kinh Nghi Thức 禮法華經儀式, 1 quyển, mất tên người dịch[48].

Đại Tạng Kinh 2067, Hoằng Tán Pháp Hoa Truyện 弘贊法華傳, 10 quyển, Đường, Huệ Tường soạn[49].

Đại Tạng Kinh 51, số 2068, Pháp Hoa Truyện Kí 法華傳記, 10 quyển, Đường, Tăng Tường soạn[50].

Đại Tạng Kinh 85, số 2748, Pháp Hoa Nghĩa Kí Quyển Đệ Tam 法華義記卷第三, 1 quyển; bị thất lạc chỉ còn quyển ba thứ ba này, mất tên người dịch[51].

Đại Tạng Kinh 85, số 2749, Pháp Hoa Kinh Sớ 法華經疏, 1 quyển, mất tên người dịch[52].

Đại Tạng Kinh 85, số 2750, Pháp Hoa Kinh Sớ 法華經疏, 1 quyển, mất tên người dịch[53].

Đại Tạng Kinh 85, số 2751, Pháp Hoa Kinh Sớ 法華經疏, 1 quyển, mất tên người dịch[54].

Đại Tạng Kinh 85, số 2752, Pháp Hoa Vấn Đáp 法華問答, 1 quyển, mất tên người dịch[55].

II.3. Nhật bản

Nhật ngữ:

Triết học tư tưởng sự điển 哲学思想事典, mục Kinh Pháp Hoa 法華経, Nham ba thư điếm xuất bản 岩波書店, năm 1998[56].

Kariya Sadahiko 苅谷定彦, “Kinh Pháp Hoa một nghiên cứu Phật học", 法華経一仏乗の研究, 1983

Sự thành lập và tư tưởng kinh Pháp Hoa, 法華経の成立と思想, không thấy tên tác giả? Nhật bản, 1993.

Viết bằng Hán ngữ:

Đại Tạng Kinh 56, số 2187, Pháp Hoa Nghĩa Sớ 法華義疏, 4 quyển, Nhật Bản, do Shōtoku Taishi (Thánh Đức Thái Tử) soạn[57].

Đại tạng kinh 56, số 2188, Pháp Hoa Lược Sao法華略抄, 1 quyển, Nhật Bản, Minh Nhất soạn[58].

Đại Tạng Kinh 56, số 2189, Pháp Hoa Thích Văn Tự 序法華釋文, Nhật Bản, 3 quyển, Trung Toán soạn[59].

Đại Tạng Kinh 56, số 2190, Pháp Hoa Kinh Khai Đề 法華經開題, 1 quyển, Nhật Bản, Không Hải soạn[60].

Đại Tạng Kinh 56, không có số kí hiệu, Pháp Hoa Kinh Khai Đề 法華經開題, 1 quyển, Nhật Bản, Biến Chiếu Xà Lê Ký[61].

Đại Tạng Kinh 56, không có số kí hiệu, Pháp Hoa Kinh Mật Hiệu 法華經密號, 1 quyển, mất tên người dịch[62].

Đại Tạng Kinh 56, không có số kí hiệu Pháp Hoa Lược Bí Thích 法華略秘釋, 1 quyển, Trường Khoan Tam Niên Tứ Nguyệt Thập Tứ Nhật Ư Khuyến Tu Tự, Tây Minh Viện Thơ Tả Liễu[63].

Đại Tạng Kinh 56, số 2191, Pháp hoa kinh Bí Thích 法華經秘釋, 1 quyển, Nhật Bản, Giác Khâm soạn[64].

Đại Tang Kinh 56, số 2192, Nhập Chân Ngôn Môn Trú Như Thực Kiến Giảng Diễn Pháp Hoa Lược Nghi入眞言門住如實見講演法華略儀, 2 quyển, Nhật Bản, Viên Trân[65].

Đại Tạng Kinh 56, số 2195, Pháp Hoa Khai Thị Sao 法華開示抄, 28 quyển, Nhật Bản, Trinh Khánh soạn[66].

II.4. Việt văn

- Pháp Hoa Đề Cương, hiện có trong bộ Việt Nam Phật Điển Tùng San Chi Tam, Thanh Đàm Tỷ kheo và Giác Đạo - Minh Chánh Thiền sư, vào Triều Gia Long (1802 – 1819), soạn thuật. Văn bản có ghi như sau: “Hoàng Triều Gia Long, thập bát niên, bát nguyệt cốc nhật”.

- Pháp Hoa Đề cương, bản khắc gỗ, năm 1933, Hòa Thượng Thanh Hanh, chùa Vĩnh Nghiêm, Miền Bắc, viết lời dẫn tựa của Pháp Hoa Đề Cương để khắc in. Bản khắc có ghi như sau: “Ngày 10 tháng 4 Bảo Đại năm thứ 9”, văn bản hiện được lưu trữ tại Thư viện Hán Nôm, Hà Nội.

- Pháp Hoa Đề Cương của Thanh Đàm (bản khắc in lại), năm 1943, bản khắc gỗ, Hội Bắc kỳ Phật Giáo khắc in và ấn hành, hiện có ở Thư viện Hán Nôm Hà Nội.

- Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Chánh Trí Mai Thọ Truyền, Hội Phật Học Nam Việt - Chùa Xá Lợi, năm 1972. Lời nói đầu, đích thân tác giả viết như sau: “…Bộ Pháp Hoa Huyền Nghĩa này đã được giảng hai lần tại Chùa Xá-Lợi của Hội Phật-Học Nam-Việt, lần đầu hồi năm 1959, lần sau vào đầu tháng ba Nhâm-Dần (5-4-1962)…”

- Kinh Pháp Diệu Pháp Liên-Hoa Giảng diễn lục, Thái Hư Đại Sư giảng, Sa Môn Trí Nghiêm dịch từ Thái Hư toàn tập, 2 tập, Nhà in Hạnh Phúc, 1970.

- Đại ý Kinh Pháp Hoa, đại ý bản Hán của La-thập, Thích Thanh Kiểm, Thành Hội PG T.P Hồ Chí Minh, xuất bản 1990.

- Lược giải Kinh Pháp Hoa, Thích Thiện Siêu, Từ Đàm, 1997.

- Kinh Chánh Pháp Hoa Sen, Thích Trí Quang, lược giải, từ bản Hán của ngài Cưu Ma La Thập có đối chiếu Pháp và Hán dịch,  Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, PL.2552, năm 1998.

- Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa kinh giảng luận, 2 tập, Thích Thông Bửu, Tổ Đình Quán Thế Âm, Nxb. Tôn giáo, 2000.

- Pháp Hoa thâm nghĩa đề cương, Thích Từ Thông giảng giải, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.

- Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải, ghi lại từ hai tập bài giảng, Thường Chiếu biên tập, Hòa Thượng Thích Thanh Từ phê duyệt, Nxb. Tôn giáo, 2003.

- Sen Nở Trời Phương Ngoại, Luận giải về Kinh Pháp Hoa, Thích Nhất Hạnh, Lá bối in, không thấy ghi năm xuất bản.

- Pháp Hoa Kinh Thông Nghĩa, Hám Sơn – Đức Thanh, Hòa Thượng Trí Tịnh dịch và giảng, Nxb.Tôn giáo, 2007.

- Nhan đề: “Một diễn dịch mới về ba bộ kinh pháp hoa”, Nikkyò Niwano; Anh dịch: Kòjirò Miyasaka, Buddhism For Today: A modern Interpretation Of The Threefold Lotus Sutra, Kose Publishing Co. Tokyo,  Việt dịch Cư Sĩ Trần Tuấn Mẫn, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam TP. HCM ấn hành 1997 – Nxb. Phương Đông tái bản, 2010.

Và còn nhiều tác phẩm mà hiện chúng tôi chưa được biết, sẽ bổ khuyết nếu có ở lần sau.

Nguôn: hoavouu.com


[1] सद्धर्मपुण्डरीकसूत्रम् , Buddhist Sanskrit Texts, No 6, P.189.

[2] Saddharmapuṇḍarīka-sūtra, Prof.U.Wogihara and C. Tsuchida, Romanized and Revised Text, Tokyo, 1958.

[3] Trong Đại chánh ghi là mất tên người dịch, T09n0265, tr. 0197a03: 薩曇分陀利經一卷, 西 .

[4] 正法華經卷, 西晉月氏國三藏竺法護譯, T09n0263, tr. 0063a02.

[5]  妙法蓮華經, 後秦龜茲國三藏法師鳩摩羅什奉 詔譯, T09n0262, tr. 0001a01

[6] , , T09n0269, tr. 0285c25.

[7]  添品妙法蓮華經, T09n0264, tr. 0134b24.

[8] Burnouf , Le Lotus De La Bonne Loi, Paris, Imprimerie Nationale, 1852. Reprint, Librairie d'Amérique et d'Orient A. Maisonneuve, Paris, 1973.

[9] Jean - Noel Robert, Le Sutra Du Lotus, Fayard, Paris, 2001.

[10] Kern, H. Saddharma Pundarîka or the Lotus of the True Law, Oxford 1884 (Clarendon Press) Sacred Books of the East, Vol. XXI, New York 1963 (Dover), Delhi 1968. Translation from Sanskrit.

[11] Cf. The Essence of the Lotus Scripture , The New Testament of Higher Buddhism by Timothy Richard, Lichard, 1990.

[12] W. E. Soothill and Bunno Kato, The Lotus of the Wonderful Law or The Lotus Gospel, Oxford, 1930.

[13] Murano Senchū, The Sutra of the Lotus Flower of the Wonderful Law, Tokyo, 1974.  Reprint: University of Hawaii Press, 2013.

[14] Katō Bunno, Tamura Yoshirō, Miyasaka Kōjirō, The Threefold Lotus Sutra: The Sutra of Innumerable Meanings; The Sutra of the Lotus Flower of the Wonderful Law; The Sutra of Meditation on the Bodhisattva Universal Virtue, Weatherhill & Kōsei Publishing, New York & Tōkyō, 1975.

[15] Hurvitz, Leon, Scripture of the Lotus Blossom of the Fine Dharma (The Lotus Sutra), Columbia University Press, New York, 1976.

[16] Kuo-lin Lethcoe, The Wonderful Dharma Lotus Flower Sutra with the Commentary of Tripitaka Master Hsuan Hua, Buddhist Text Translation Society, San Francisco, 1977.

[17] Burton Watson, The Lotus Sutra, Columbia University Press, New York, 1993.

[18] Tsugunari Kubo and Akira Yuyama Numata, The Lotus Sutra, Center for Buddhist Translation and Research, 2007.

[19] Gene Reeves, The Lotus Sutra, Boston, 2008.

[20] Văn bản giới thiệu từ Hiroshi Kyokura (は弘教藏より収録),  Nguyên bản Quốc Dân Văn Khố San Hành Hội 元版は 行會,  1917.

[21] Bản đầu tiên Trung Ương Công Luận Xã (初版は中央公論社),  1975-1976 .

[22] Dẫn thượng, xem chú thích 7.

[23]妙法蓮華經憂波提舍, 大乘論師婆藪槃豆釋, 沙門曇林等譯, T26n1519, tr. 0001a03 và 妙法蓮華經論優波提舍, 婆藪般豆菩薩造 , 那摩提共僧朗等譯, T26n1520, tr. 0010c03

[24] Xem ở phần văn bản chú giải Hán văn bên dưới.

[25] 法華義記, 光宅寺沙門 雲法師撰, T33n1715, tr. 0572a01.

[26] 法華玄義釋籤, 天台沙門湛然述, T33n1717, tr. 0815b02.

[27] 妙法蓮華經文句, 天台智者大師 T34n1718, tr. 0001b18.

[28] 法華文句記, 唐天台沙門湛然述, T34n1719, tr. 0151a02

[29] 法華玄論, 吉藏撰, T34n1720, tr. 0361a01.

[30] 法華義疏, 吉藏撰, T34n1721, tr. 0451a03.

[31] 法華遊意,胡吉藏造, T34n1722, tr. 0633b08.

[32] 妙法蓮華經玄贊 , 大慈恩寺沙門基撰, T34n1723, tr. 0651a03.

[33] 法華玄贊義決, 淄州大雲寺苾芻慧沼撰 , T34n1724, tr.0854c03.

[34] 法華宗要, 元曉師撰, T34n1725, tr. 0870c07.

[35] 摩訶止觀, 隋天台智者大師 T46n1911, tr. 0001a03.

[36]妙法蓮華經憂波提舍, 大乘論師婆藪槃豆釋, 沙門曇林等譯, T26n1519, tr. 0001a03.

[37]妙法蓮華經論優波提舍, 婆藪般豆菩薩造 , 那摩提共僧朗等譯, T26n1520, tr. 0010c03.

[38] 就妙法蓮華經王瑜伽觀智儀軌一卷, 試鴻臚卿肅國公食邑三千戶賜紫贈司空諡大鑒正號大廣智大興善寺三藏沙門不空奉 詔譯 , T19n1000, tr. 0594a04.

[39]法華曼荼羅威儀 形色法經. 中京大興善寺大廣智不空奉 詔譯 T19n1001, tr. 0602b03.

[40] 妙法蓮華經度量天地品第二十九, T85n2872, tr. 1355c11.

[41] 法華十羅剎法, T21n1292, tr. 0377a12.

[42] 妙法蓮華經馬明菩薩品第三十, T85n2899, tr. 1426a12.

[43] 法華論疏, 胡吉藏撰, T40n1818, tr. 0785a16.

[44] 法華經安樂行義, 陳南嶽思大禪師, T46n1926, tr. 0697c16.

[45]法華三昧懺儀 (法華三昧行事 運想補助 禮法華經儀 ) T46n1941, tr. 0949b10.

[46] , 唐國清沙門湛然撰 T46n1942, tr. 0955c10.

[47] 略法華三昧補助儀并序, T46n1943, tr. 0956c04

[48] 禮法華經儀式, T46n1944, tr. 0956c22.

[49] 弘贊法華傳,  藍谷沙門惠詳撰, T51n2067, tr. 0012b16.

[50] 法華傳記, T51n2068, tr. 0048b21.

[51] 法華義記卷第三, T85n2748, tr. 0170a03.

[52] 法華經疏, T85n2749, tr. 0180a03.

[53] 法華經疏, T85n2750, tr. 0189b24.

[54] 法華經疏, T85n2751, tr. 0194c05.

[55] 法華問答, T85n2752, tr. 0199a16.

[56]哲学 思想事典, 岩波書店, 1998, 法華経, pp.1485-1486, 菅野博史 担当

[57] 法華義疏, 聖德太子, T56n2187, tr. 64.

[58] 法華略抄, 明一撰, T56n2188, tr. 129.

[59]法華釋文序, 釋中算 , T56n2189, tr. 144.

[60]法華經開題, T56n2190, tr. 172.

[61]法華經開題, 遍照闍梨記, T56, Không có số kí hiệu, tr. 175.

[62]法華經密號, T56, không có số kí hiệu, tr.182.

[63]法華略秘釋, 長寬三年四月十四日於勸修寺西明院書寫了T56,  không có số kí hiệu, tr. 183.

[64]法華經秘釋, 沙門覺欽 , T56n2191, tr. 189.

[65]入眞言門住如實見講演法華略儀, T56n2192, tr. 189.

[66] 法華開示抄, T56n2195,tr. 255.

 

NGHI THỨC THỈNH ĐẠI HỒNG CHUNG

NGHI THỨC THỈNH ĐẠI HỒNG CHUNG
Chùa Bảo Vương

HT. Huyền-Tôn dịch

Kệ Đã dịch Thành âm Nghĩa Tiếng Việt.

Trước khi vào Thỉnh Đại Hồng Chung, Phải hồi 3 hồi Khánh (chuông nhỏ) lại 4 tiếng, rồi tiếp Hồng chung.
Thức Hồng Chung 7 tiếng nhỏ và 3 tiếng lớn.

Nguyện tiếng chuông nầy ngân khắp cõi

Thiết-vi ngục tối thảy xa nghe

Cõi trần trong sạch đều thông suốt

Giác ngộ sanh linh cả mọi loài. (0)

Nghe chuông phiền não nhẹ lâng lâng

Bồ đề thêm lớn Tuệ sáng ngần

Xa rời Địa-ngục qua hầm lửa

Nguyện thành như Phật độ chúng sanh. (0).

 

Thần chú : Phá địa ngục :

Án Già Ra Đế Da Tóa Ha (3 lần).

 

Sơ khấu : (khấu thỉnh đoạn nhứt)

Hồng chung khởi thỉnh tiếng ban đầu,

Bảo kệ ngâm cao thoát nhiệm mầu,

Trên thấu Thiên đàng vui an lạc

Dưới thông Địa ngục diệt đau sầu  (0) .

*Nam Mô U Minh Giáo Chủ, Cứu khổ bổn tôn, Cứu bạt minh đồ, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).

 

Hồng chung khấu thỉnh lần thư hai,

Bảo kệ ngâm cao giọng ngân dài,

Trên thấu thiên đường trời niệm Phật

Dưới thông địa ngục ngục tiêu tai. ! (0).

*Nam Mô U Minh Giáo Chủ, Cứu khổ bổn tôn, Cứu bạt minh đồ, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).

 

Hồng chung kính thỉnh lần thứ ba,

Bảo kệ ngân cao chiếu bảo tòa,

Trên thấu thiên đường thông sáu nẻo,

Dưới sâu địa ngục độ bao la. ! (0)

*Nam Mô U Minh Giáo Chủ, Cứu khổ bổn tôn, Cứu bạt minh đồ, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).

 

Kính nguyện : (lời chúc)

Nguyện cầu Phật Nhựt Tăng Huy,

Pháp luân thường chuyển gió hòa dân an,

Tứ Sinh Ba cõi nhờ ân,

Luân hồi sáu đạo lụy thân đã nhiều

Nguyện cầu báo chướng đều tiêu ,

Mười loài Chín cõi  An, Siêu vẹn toàn ! (0).

Trần gian duyên nghiệp lầm than 

Nguyện tiêu tất cả tội mang nhiều loài .

Bão lụt đói khát nạn tai,

Nam hòa Đông thuận như đời Thuấn Nghiêu !(0).

Nghiệp phiền khổ chướng tiêu diêu,

Trận vọng binh tướng nguyện siêu liên hồng

Nhân hòa địa lợi đều thông,

Chim bay thú chạy bẫy vòng chớ vương. (0).

Cô thân lãng tử tha hương

Mau về quê mẹ trọn thương nghĩa tình

Nguyện cầu Chư Phât độ sinh

Vô biên thế giới  đất trời gần xa, (0)

Viễn cận Tăng tín đàn na

Thiền môn an tịnh lợi tha đạo vàng

Long thần thổ địa hân hoan,

Hộ Tăng hộ pháp đạo tràng hưng long.

Me,ï cha, sư, hữu tồn vong,

Mất còn lợi lạc vẫn trong chơn thường.(0).

Đồng về bến giác quê hương,

Đồng đăng bỉ ngạn Tây-Phương DI ĐÀ.

 

*Nam MôThanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật. (0).

*Nam Mô Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật. (0)

*Nam Mô Thiên Bá Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật. (0)

*Nam Mô Đương Lại  Từ-Thị Hạ sanh Di Lặc Tôn Phật. (0)

*Nam Mô Cực Lạc Thế Giới  Từ Phụ Tiếp Dẫn A Di Đà Phật. (0)

*Nam Mô Thập Phương Tam Thế Nhứt Thế Chư Phật. (0).

*Nam Mô Đại Phương Quảng Diệu Liên Hoa Vương Thập Phương Phật Mẫu Đa La Ni. (0)

*Nam Mô Đại Phương Quảng Phật, Hoa Nghiêm Kinh, Hoa Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát. Ma Ha Tát (0).

*Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).

*Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).

*Nam Mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. (0)

*Nam Mô Từ Hàn Cứu Khổ Đai Bi Linh Cảm Quan Thế Aâm Bồ Tát Ma Ha Tát.(0)

*Nam Mô Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát Ma Ha Tát. (0)

*Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vường Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).

*Nam Mô Tam Châu Cảm Ứng Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát. (0)

*Nam Mô Già Lam Thánh Chúng, Thiên Long Bát Bộ Nhứt Thiết Chư Thiện Thần. (0)

 

Nguyện :

Mười phương ba đời đấng Như Lai

Tám mươi tám Phật, tọa bảo đài;

Sáu nẻo sanh linh cầu cứu khổ ,

U Linh mười loại thoát trần ai. (0).

 

Nam Mô Siêu Tịnh Độ Bồ tát . 3L. (0).

 

Thán :

Chùy chạm chuông ngân chín chục lần,

Chúng Tăng thanh tịnh lộ nghiêm thân,

Bốn thời tinh tấn tham thiền tịnh

Nhẹ bước rời đơn niệm độ sinh. (0).

Kệ :

Trăm tám chuông vàng lễ Phật danh

Trên thông dưới thấu diệu vô ngần

Sáu nẻo sinh linh cầu giải cứu

U đồ thập loại thoát hỏa khanh. (0).

 

Nam Mô Siệu Thập Địa Bồ Tát Ma Ha Tát .

Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.  3L (0000).

_________________________________________________

 

Bài kệ Chuông Nguyên Hán bản  :

 

Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới

Thiết vi u ám tất giai văn

Văn trần thanh tịnh chứng viên thông

Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác. (0).

Văn chung thinh phiền não khinh

Trí tuệ trưởng Bồ Đề sanh,

Ly Địa ngục xuất hỏa khanh

Nguyện thành Phật độ chúng sanh,. (0).

Aùn Gìøa Ra Đế Gia Tóa Ha (Ta Bà Ha). 3L (0).

 

Sơ khấu :

Hồng chung sơ khấu, Bảo kệ cao âm, Thượng triệt thiên đường,

Hạ thông địa phủ. (0). *Nam Mô U Minh Giáo Chủ, Cứu Khổ Bổn Tôn, Cứu Bạt Minh Đồ,Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).

 

Nhị khấu :

Hồng chung nhị khấu   : ….(giống như Sơ khấu     (0).

Hồng chung Tam khấu :.… (giống như Sơ khấu ….(0).

 

Ngưỡng nguyện :

Thượng chúc Phật nhựt tăng huy, Pháp luân thường chuyển, Phong điều võ thuận, Quốc thới dân an, Xứ xứ hưởng thái bình chi lạc.(0), 

-Phổ nguyện :

Tam giới tứ sanh chi nội, các miễn luân hồi, Cửu U thập loại chi trung tất ly khổ hãi. (0). Ngũ phong thập võ, miễn tao cơ cẩn chi niên, Nam mẫu đông giao, cu triêm Nghiêu Thuấn chi nhựt, Can qua vĩnh tức, giáp mã hưu chinh, trận bại thương vong, cu sanh Tịnh Độ. (0). Phi cầm tẩu thú, La võng bất phùng, Lãng tử cô thương, tảo hoàn hương tĩnh. (0). Vô biên thế giới, địa cửu thiên trường, viễn cận đàn na, tăng diên phước thọ.(0). Sơn môn trấn tịnh, Phật Pháp thường hưng, Thộ địa long thần, an tăng hộ pháp. (0). Phụ mẫu Sư trưởng, lục thân quyến thuộc, lịch đại tiên vong, Đồng đăng bỉ ngạn.(0).

 

*Nam MôThanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật. (0).

*Nam Mô Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật. (0)

*Nam Mô Thiên Bách Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật. (0)

*Nam Mô Đương Lại  Hạ sanh Từ Thị Di Lặc Tôn Phật. (0)

*Nam Mô Cực Lạc Thế Giới  Từ Phụ Tiếp Dẫn A Di Đà Phật. (0)

*Nam Mô Thập Phương Tam Thế Nhứt Thế Chư Phật. (0).

*Nam Mô Đại Phương Quảng Diệu Liên Hoa Vương Thập Phương Phật Mẫu Đa La Ni. (0)

*Nam Mô Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, Hoa Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát. Ma Ha Tát (0).

*Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).

*Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).

*Nam Mô Hư Không Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. (0)

*Nam Mô Từ Hàn Cứu Khổ Đai Bi Linh Cảm Quan Thế Aâm Bồ Tát Ma Ha Tát.(0)

*Nam Mô Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát Ma Ha Tát. (0)

*Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (0).

*Nam Mô Tam Châu Cảm Ứng Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát. (0)

*Nam Mô Già Lam Thánh Chúng, Thiên Long Bát Bộ Nhứt Thiết Chư  Vị Thiện Thần. (0)

 

Kệ:

Thập phương Tam Thế Thất Như Lai

Bát thập Bát Phật Tọa Bảo Đài

Lục đạo chúng sanh mông giải khổ

Cửu U thập loại thoát trần ai. (0).

*Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát. 3L (0).

 

Thán :

Chung thinh cửu thập hựu lôi chùy

Tịnh diện tăng già đẳng đẳng tri

Tham phỏng tứ thời tuân khổ chế

Hạ đơn lưỡng bộ các oai nghi. (0).

 

 (Đến đây hoàn chung, để tụng kinh : Tịnh-độ 8.00 tối./ Lăng nghiêm 5.00 sáng)

Kệ hoàn chung :

Bát bát chung thinh hướng Phật tiền

Thượng thông hạ triệt lạc vô biên

Lục đạo chúng sanh mông thoát khổ

Cửu u thập loại xuất khanh nhiên.

*Nam Mô Đăng Thập Địa Bồ Tát Ma Ha Tát

Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật. (0000).

Pháp Nghi : Khai Chung, Cổ, Đạc, Bảng .

*Khánh Thành*Trùng Tu *An vị*An cư*

 

                                                                       HT. Thích Huyền-Tôn

                                                                                Tuyển Dịch

( Chuông /hồng/gia trì.Trống, Mõ , Bảng..)          

 

      Trước hết phải khai Thủ Xích :

Như Lai nhứt chỉ án Tam Quang,

Chư Phật Từ Bi trấn tịnh đàn.

Vị tác nhơn thiên chi pháp lịnh,

 Oai linh hàng phục hộ đạo tràng.

Nhứt trịch Thiên cung khai môn hộ,     (vỗ xích : Án dà hồng . )

 Nhị trịch địa phủ tốc môn khai.            (vỗ xích : Án dà hồng . )

Tam trịch chúng đẳng hàm thanh tịnh.  (vỗ xích : Án dà hồng . )

 

1.    Trai Đàn Khai Chung Bảng Thỉnh Thánh :

           Xướng kệ ,  Khai Chung Bảng :

 

           *Kim chung vận hướng ư không kiếp, - chi tiền !

           Ngọc bảng thinh truyền ư oai âm, - na bạn !

           Yết thị đường tiền dụng biểu định, - chi tuệ !

           Viên dung quy tắc, -Vi thiền !

           Đương kim phương trượng truyền đăng  - tục đạo!

           Tương vi y bát hoằng pháp  - lợi sanh !

           Tái kỳ, Phạm sát hữu khánh, - Đàn tín quy sùng!

           Phàm hướng thời trung,  - kiết tường như ý !

           Nhơn Thiên hiệu lịnh, Phật Tổ hồng quý, thời tiết chí kỳ,

           quyền thuộc - A thùy !

           -Viên đoàn  ( ..Keng..) Đoàn (..Keng..Keng )

           -Phương Trát (..Cốc.. ) Trát ( ..Cốc..Cốc ).

           *Bất thị kim linh diệc phi mộc đạc, quyền thiệt song hành,

             -phương viên hộ tác!

           Bất cấu bất nhiễm thị Tây-phương.

           Vô não vô ưu chơn Cực-lạc.

           Duy tâm Tịnh Độ khẳng thừa đương.

           Bổn tánh Di Đà do tự giác.

          *Nhứt cá viên hề ( Keng..) nhứt cá phương ( Cốc ..)

           Đại thiên sa giới triệt tư lương,

           Kim thinh mộc vận tùng tư chấn,

           Vạn cổ sum nhiên “tuyển Phật trường “.

Nhứt chùy đả phá Thái Hư không ( Bớp - Thủ xích vỗ lên mặt bàn)

     Vạn lý cô vân tùy tán lạc, Túng ngô đồng đầu thiết ngạnh nhơn, Nhậm bỉ ư tư hoán bì xác, Đại chúng văn thinh lịnh, nhi hành, Vật sử tương tâm nhi tấu bạt. ( Vỗ xích ! rồi trao cho duy na.).    

 

2. KHAI CHUNG GIA TRÌ       (Nơi bàn Tụng kinh)   

Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới

Thiết vi u ám tất giai văn

Văn trần thanh tịnh chứng viên thông

Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.

Văn chung thinh, phiền não khinh

Trí tuệ trưởng, Bồ đề sinh

Ly địa ngục xuất hỏa khanh

Nguyện thành Phật, độ chúng sanh

Án Dà Ra Đế Gia Tóa Ha (3L).

 

 

3. Khai tăng chung  (Bảo chúng, treo với bảng)

Kim chung mộc bảng tứ phương khai

Thần Thánh đề huề bộ xuất lai

Thinh âm phổ biến thập phương xứ

Chư Phật Bồ tát giáng đàn trai.

Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát.

 

4. KHAI MỘC BẢNG   (Hình nhật không cân góc)

Ngọc bảng tùng tư chấn cửu thiên

Tam đồ sạ thính giải oan khiên

Viên âm quảng biến vô biên giới

Bồ tát Thiên Long thị giám minh.

Nam Mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát.

 

5. KHAI ĐẠI HỒNG CHUNG

Bồ lao nhứt chuyển hướng chung thinh

Phạm sát kình chùy chấn địa minh

Lục thú tài văn phiền não tức

Tam đồ sạ thính khổ toan đình

Nam Mô Siêu Thập Địa Bồ Tát.

 

6. KHAI ĐẠI CỔ   ( Trống lớn)

Pháp luân thường chuyển huệ tâm khai

Cát đoạn sanh tử toạ bảo đài

Kim Cang đảnh lễ y vương vị

Thân tâm thanh tịnh bái Như Lai.

Nam Mô Thiên Tràng Vương Bồ Tát.

Nam Mô Cổ Lôi Âm Bồ Tát.

 

7. KHAI MỘC ĐẠC   (Mõ Gia trì)

Gia trì mật niệm tẩy trần tâm

Mộc ngư khảo hướng chuyển tam luân

Tề chúng lục hòa tuyên bối diếp

Tứ sanh cửu hữu lễ kim thân

Án Yết Đế Yết Đế Ta Bà Ha./.

 

Bài kệ đánh Chuông trống Bát-Nhã :

Bát nhã hội, Bát nhã hội, Thỉnh Phật thượng đường, đại chúng đồng văn bát nhã âm, Phổ nguyện pháp giới đẳng hữu tình, cộng nhập Bát Nhã Ba La Mật môn./ 1 lần như vậy là  1 hồi “Đủ 3 hồi. lại 4 tiếng” kết thúc. Riêng Hồng chung, chỉ hồi từ lớn xuống nhỏ theo trống/ lại 3 tiếng.)

(Cách dứt : -Bùm /Boong. -Bầm -bầm/ Boong. –Bùm /Boong.)

________________________ 

 

phần nghĩa

Pháp Nghi : Khai Chuông, Trống, Mõ, Bảng .

         *Khánh Thành*Trùng Tu *An vị*An cư*

                                              

                                                                       HT. Thích Huyền-Tôn

                                                                                Tuyển Dịch

 

( Chuông lớn /. Chuông Mõ gia trì /.Trống Lớn/. Khánh / Bảng..)          

 

      Trước hết phải khai Thủ Xích

 

   KỆ KHAI THỦ XÍCH :

 

Như Lai Ấn Chỉ Sáng Tam Quang, 

Chư Phật Từ Bi Chứng Tịnh đàn.

Vâng làm pháp lịnh cứu nhơn thiên

Oai linh hàng phục hộ đạo tràng

Một xích, cửa trời đôi cánh mở,     (vỗ 1 xích  -Án Dà Hồng ! )

Hai xích địa phủ hoát môn khai,     (vỗ 1xích  -Án Dà Hồng ! )

Ba xích khắp nơi đều thanh tịnh,    (vỗ 1 xích -Án Dà Hồng ! )

 

1.Trai Đàn Thỉnh Thánh : Khai Chung Bảng  :

Chuông Lớn /Trống lớn /Bảng/ chuông Gia trì/ Bảo chúng/ Mõ.

 

           Xướng kệ ,  Khai Chung Bảng :

 

Chuông vàng từ ở không không kiếp,    - Cổ đại xa rồi!

Bảng ngọc truyền vang thuở Oai-âm,    - Pháp giới ngàn xưa !

Niệm trước thiền đường dùng biểu định,  - Là Tuệ !

Đầy đủ pháp tắc,    - Là Thiền !

Giờ đây, Phương Trượng “truyền đăng” - nối đạo !

Trải rộng  bát y ,“Hoằng Pháp”  - Lợi sinh !

Đến kỳ, Khánh thành rung cõi phạm, - Đàn Tín quy y !

Hướng lòng đúng lúc !  - Kiết tường như ý !

Phật Tổ ân cao ! Trời Người vâng lịnh , -Thời tiết đến kỳ !

Cúi xin phủ …  -Thùy !

- Chuông tròn ( đánh Keng ..) - Chuông.. (keng keng ..)

- Mõ gỗ  (đánh Cốc…)   - Mõ  ( Cốc.. cốc.. cốc…)

Tuy không phải chuông vàng, hay mõ ngọc, nhưng quyền thiệt đồng bang, -Chuông tròn ngân…Vang !

*Không nhiễm không nhơ là Cõi Phật !

*Không lo không não đó Niết Bàn ! (Tây phuơng)

*Duy tâm Tịnh Độ xin vâng giữ,

*Bổn tánh Di Đà tự giác nương.

- Một tiếng chuông hề, (Boong !)

- Một tiếng Mõ hề,  ( Cốc !)

Nghĩ, thấu biết , - Đại thiên sa giới !

Chuông vàng, Mõ gỗ chấn động từ đây !.

Muôn kiếp cùng chung “ Tuyển Phật Trường” .

(tâm nghe,) Một chùy đánh nát thái hư không (Bớp -Vỗ thủ xích !)

Muôn dặm vầng mây tan tán lạc, Ngô đồng đầu sắt, người ngạnh kíp nhớ về đây liền đổi thay thân xác !

Đại chúng nghe chuông lịnh, chớ buông tâm rời rạc. (Vỗ xích! rồi trao xích cho duy na, trở về kinh đài)

 

2. KHAI CHUNG GIA TRÌ       (Nơi bàn Tụng kinh)   

Nguyện tiếng chuông nầy ngân khắp cõi,

Thiết vi ngục tối thảy xa nghe

Cõi trần trong sạch đều thông suốt

Giác ngộ sanh linh cả mọi loài .

Nghe tiếng chuông phiền não nhẹ !

Trí tuệ sáng, Đạo Bồ đề sanh,

Thoát ly hầm lửa ly địa ngục

Nguyện thành như Phật, độ chúng sanh

Án Dà Ra Đế Gia Tóa Ha (3L).

 

3. Khai tăng chung  (Bảo chúng, treo với bảng)

Chuông vàng bảng ngọc thấu bốn phương

Thần Thánh về đây đếm không lường,

Âm thinh biến khắp mười phương cõi

Chư Phật Bồ tát chứng đàn tràng,

Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát.

 

4. KHAI BẢNG GỖ :   (Hình nhật không cân góc)

Chín cõi từng trời nghe bảng ngọc

Tam đồ đều giải hết oan khiên

Tiếng bảng nghe vang vô biên giới

Bồ tát Thiên long các Thánh Hiền,

Nam Mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát.

 

 

5. KHAI ĐẠI HỒNG CHUNG

Chày kình dộng át tiếng bồ lao,

Chuông ngân vang động đất rung cao

Sáu thú vừa nghe phiền não dứt

Ba Đường chợt thức khổ trần lao

Nam Mô Siêu Thập Địa Bồ Tát.

 

6. KHAI ĐẠI CỔ   ( Trống lớn)

Pháp luân thường trổi, Tuệ thường khai 

Đoạn tuyệt Tử sanh lên bảo đài

Kim Cang đảnh lễ, chư phương Phật,

Thân tâm trong sạch lạy Như Lai.

Nam Mô Thiên Tràng Vương Bồ Tát.

Nam Mô Cổ Lôi Âm Bồ Tát.

 

7. KHAI MỘC ĐẠC   (Mõ Gia trì)

Gia trì mật niệm rửa trần tâm  

Mõ gỗ ba hồi tuyệt lỗi lầm

Chúng đủ lục hòa tụng kinh kệ

Tứ sanh chín cõi lạy kim thân

Án Yết Đế Yết Đế Ta Bà Ha./.

 

Bài Kệ Đánh Chuông trống Bát-Nhã :

 Bát nhã hội, Bát nhã hội, Thỉnh Phật thượng đường, đại chúng đồng văn bát nhã âm , Phổ nguyện pháp giới đẳng hữu tình, cộng nhập Bát Nhã Ba La Mật môn./ 1 lần như vậy là 1 hồi .“Đủ 3 hồi lại 4 tiếng” kết thúc. Riêng Hồng chung, chỉ hồi từ lớn xuống nhỏ theo trống/ lại 3 tiếng.)

(Cách dứt : -Bùm /Boong. -Bầm -bầm/ Boong. –Bùm /Boong.)

 

---o0o---

Vi tính: Sư cô Thể Viên & Thanh Phi

 

5 Bài Hô Canh Ngồi Thiền

Những bài kệ canh dưới đây áp dụng vào mùa An Cư, Kiết Hạ hằng năm của của Chư Tăng, hoặc trong trường hợp khai Đại Giới Đàn của xưa và nay. Đặc biệt với cuộc sống ở hải ngoại không đủ điều kiện thời gian nhất là lớp trẻ, nên đã phải tổ chức các khóa tu học ngắn hạn chỉ gồm nửa ngày và nửa đêm để phù hợp với thời gian của những bài kệ.

 

Trong một đêm được chia ra làm năm thời, mỗi thời có một ý nghĩa khác nhau và cũng là để cảnh tỉnh người xuất gia, nhất là trong những lúc an cư, cấm túc cần phải thực hiện đầy đủ hơn theo những bài kệ của 5 canh dưới đây:

 

CANH MỘT:

Nhứt canh dĩ đáo thượng thiền sàng,
Tam nghiệp tịnh trừ đổ thánh nhan.
Thâm tín Phật ngôn hằng niệm Phật,
Chỉ tu nhứt hướng vãng Tây Phương. (1)
Ngưỡng lao đại chúng các các nhứt tâm niệm Phật.

CANH HAI:

Nhị canh dĩ đáo lự hư không,
Thỉ giác phù sanh nhứt mộng trung.
Niệm Phật nhứt tâm vô gián đoạn,
Viên minh nhứt điểm tận linh thông.
Ngưỡng lao đại chúng các các nhứt tâm niệm Phật.

CANH BA:

Tam canh dĩ đáo khiển thùy ma,
Thấu khẩu liên tâm tọa kiết già.
Niệm Phật nhứt tâm vô tạp tưởng,
Công thành quả mãn kiến Di Đà,
Ngưỡng lao đại chúng các các nhứt tâm niệm Phật.

CANH TƯ:

Tứ canh dĩ đáo tấn diên sanh,
Tịch mặc tâm đầu diễn Phạm thanh.
Phật quốc phi diêu thiên bất viễn,
Nguyên lai chỉ tại nhứt tâm thành.
Ngưỡng lao đại chúng các các tỉnh tâm niệm Phật.

CANH NĂM:
 

Ngũ canh dĩ đáo pháp môn khai,
Phổ nguyện đồng đăng bát nhã đài.
Liễu triệt Tam thừa dung Nhị đế.
Cao huyền huệ nhựt tịnh vân mai (mê).
Ngưỡng lao đại chúng các các tỉnh tâm niệm Phật.


Trong 5 bài kệ trên, ý nghĩa và văn tự có khác nhau theo từng canh một, nhưng điệu giọng và cách thức cũng y như nhau; gồm 3 câu bạch, 1 câu nói: Câu 1, 2, 4 điệu bạch, câu 3 điệu nói và câu cuối cùng là câu “Ngưỡng lao…) tương tự như câu nói.

Ghi chú:

(1) 3 chữ vãng Tây Phương có vị đổi thành 3 chữ “nhập Linh Sơn”. Ngoài ra có Ngài lại thêm nguyên một câu sau đây “Sanh tử sự đại tấn tốc vô thường” trước câu thứ 5 tức câu “Ngưỡng lao…” với mục đích nhắc nhở người tu hành luôn nhớ đến sanh tử, vô thường…

Thông thường chỉ hô Canh Một và Canh Năm mà thôi. Riêng trong khóa tu ngắn hạn nầy, các vị hô canh đã hô cả 5 canh để Phật tử chúng dễ dàng tham cứu.

Kính chúc quý vị thân tâm an lạc khi nghe Điệu Hô Canh của điệu thức Phật Giáo Huế.

Nguồn: http://hoavouu.com

 

VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG KINH LĂNG GIÀ PHẠN-HÁN

image

Các chủng tử là tập khí của tướng, danh và phân biệt, ta nhắc lại năm pháp (pañcadharmāḥ) của Lăng-già: tướng (nimitta), danh (nāma), phân biệt (vikalpa), như tính (tathātā), chính trí (samyagjñāna). Ở đây muốn kết luận hai pháp sau là vô lậu, không đề cập trong đây, vì không phải là đối tượng của a-lại-da thức. Thân có căn là các căn thuộc sắc và y xứ của căn. Cả hai cái này được chấp thọ bởi thức, được nhận làm tự thể của thức, vì cùng chung an, nguy. Chấp thọ và xứ đều là sở duyên.

VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG KINH LĂNG GIÀ PHẠN-HÁN
Tư tưởng triết lý “bất động”

Cơ sở hành động triết lý của Đại thừa: bằng tuệ giác và tình yêu, thế giới này được nhận thức như là hoa đốm giữa hư không, vượt ra ngoài tính chất khởi sinh, băng hoại và hủy diệt, vượt ra ngoài ấn tượng (hay quan niệm) về hiện hữu và về sự không hiện hữu.  Đó cũng là tư tưởng chủ đạo của Kinh Lăng-già: “Utpādabhaṅgarahito lokaḥkhapuṣpasaṃnibhaḥ/ sad-asannopalabdhas te prajñayā kṛpayā ca te.”[1]; kệ tụng Sanskrit này đã được Cầu-na-bạt-đà-la dịch qua Hán ngữ rất nổi tiếng: “世間離生滅 - 猶如虛空花 -智不得有無- 而興大悲心 Thế gian ly sanh diệt/Do như hư không hoa/Trí bất đắc hữu vô/Nhi hưng đại bi tâm”[2]. Do sự thông đạt ý nghĩa bài tụng Sanskrit này khác nhau mà sự phiên dịch từ qua Hán ngữ có đôi chút dị biệt, Bồ-đề-lưu-chi đã dịch là: “Phật tuệ đại bi quán/ thế gian ly sinh diệt/ do như hư không hoa/ hữu vô bất khả đắc”[3].  Khi ở trạng thái vượt ra ngoài nhị nguyên về hiện hữu và không hiện hữu, phi mọi ấn tượng, lúc đó thể nhập trạng thái mà thuật ngữ Lăng-già gọi là acalā : “bất động”, đây cũng là địa thứ tám ở trong mười địa, ở địa này Bồ-tát đầy đủ năng lực và trí tuệ để vượt qua mọi gian nan - “dvayasaṃjñāvicalanād acalā ca nirucyate[4]: do không còn bị dao động bởi các ấn tượng (hữu tướng hay vô tướng) nên được gọi là Bất động (acalā)”[5].

Giả thiết chúng ta có thể quan niệm được một cách cụ thể rằng một con người nào đó dù đã chết, với sự hoại diệt của thân này, vẫn luôn luôn còn tồn tại trong lịch sử nhân loại, thì sự tồn tại của một vị A-la-hán đã đạt đến bất động nhập vô dư Niết-bàn cũng có thể được quan niệm một cách không khó khăn, nó không còn là một “nan đề” nữa. Vị ấy chỉ đi vào vô dư Niết-bàn theo ý nghĩa ước lệ, ta có thể dẫn một đoạn kinh tiếng Phạn của Lăng-già để minh chứng cho điều này: “aṣṭamyāṃ Mahāmate nirvāṇāṃ śrāvakapratyeka-buddhodhisattvānāṃ/ bodhisattv ca samādhibuddhairvidhāryante tasmāt samādhisukhād, yena na parinirvānti aparipūrịatvāt tathāgatabhūmeḥ/ sarvakāryaprati prasrambhaṇaṃ ca syāt, yadi na saṃdhārayet, tathāgatakula- vaṃśocchedaśca syāt/ acintyabuddha- mahātmayaṃ ca deśayanti te buddhā bhagavantaḥ/ ato na parinirvānti/ śrāvaka-pratyekabuddhās tu samādhisukhenāpahriyante/ atas teṣāṃ tatra parinirvāṇabudhir bhavati” [6]: Tam-muội mà Bồ Tát ở địa thứ tám chứng đạt được cũng đồng với Niết-bàn của Thanh văn và Duyên giác. Nhưng do năng lực hỗ trợ của chư Phật nên Bồ Tát ở nơi tam-muội môn mà không nhập Niết-bàn. Vì nếu không được duy trì, thì Bồ Tát sẽ không còn hóa độ hết thảy chúng sinh được nữa; không thể thành tựu viên mãn địa vị Như Lai, và như thế là làm dứt chủng tính Như Lai. Cho nên, chư Phật giảng thuyết các công đức vĩ đại, bất khả tư nghị của Như Lai, khiến cho Bồ Tát không triệt để nhập Niết-bàn. Thanh văn và Duyên giác vì còn bị dính mắc vào lạc thú của tam-muội cho nên ở trong đó mà có ấn tượng là nhập Niết-bàn[7].

Bồ tát Đại Tuệ tán thán Phật trong kinh Lăng-già mà chúng ta đã dẫn ở trên: Bằng Bi và Trí, mà Bồ tát biết rõ bản chất của thế gian, là sinh diệt hay không diệt; là hiện hữu hay không hiện hữu. Với ý nghĩa trên Lăng-già phân làm ba loại trí - “…lokottara laukika lokottaratamaṃ jñānam”[8]:  có ba loại trí, thế gian (laukika) của các triết gia ngoại đạo, xuất thế gian (lokottara) của Nhị thừa, và xuất thế gian thượng trí (lokottaratamaṃ jñānam) của Bồ Tát.

Khi hành giả thông đạt đến mức độ sức mạnh tâm linh tương ứng để có thể nhập vào một thứ định tên là: “Đại thừa quang minh định”[9], định này nó phát ra ánh sáng trí tuệ soi rọi sáng lý, giáo, hành, và quả của Đại thừa. Về sau,Lăng-già tiếp tục đề ra ý niệm “chuyển y”, và cảnh cáo rằng: ai thấy bất động hay Niết-bàn là thường, thì đó là thường kiến, là thế gian trí, chứ không phải là chánh kiến hay xuất thế gian thượng trí - “Punar aparaṃ Mahāmate nirvāṇam āryajñānapratyātmagatigocaraṃ śāśvatocchedavikalpabhāvābhā-vavivarjitam[10]: Lại nữa, này Đại Huệ, Niết-bàn là cảnh giới của Thánh trí tự chứng vượt ngoài phân biệt thường hằng và đoạn diệt, hiện hữu hay phi hiện hữu.

Sự tồn tại của chúng có thể được nhận thức bằng trực giác, tức điều mà Lăng-già nói là hiện lượng của tự tâm. Vì vậy, cũng không thể có chuyện nhàm chán khổ đau mà mong cầu đến chỗ bất động, Niết-bàn: “Năm thức thân vốn không lưu chuyển, không cảm thọ khổ lạc, không phải là nhân của Niết-bàn. Như Lai tạng cùng chuyển hiện và ngưng nghỉ với nhân của khổ và lạc được cảm thọ, bị che mờ bởi bốn loại tập khí”[11].

Cũng nên nói thêm theo quan điểm Lăng già, Bồ tát trước địa thứ sáu cũng có thể hiện khởi diệt tận định - “Bồ tát từ sơ địa đến thứ sáu đều có thể nhập diệt tận định…. Bồ tát địa thứ bảy nhập diệt tận định trong từng niệm niệm, vì đã có thể viễn ly tất cả tướng hữu và tướng vô của hết thảy pháp.”[12]. Khi chứng đắc anutpattidharmakśānti - vô sinh pháp nhẫn, chứng nghiệm tự tánh không sinh khởi của các pháp. Bồ-tát từ địa thứ sáu, thành tựu Bát-nhã ba-la-mật, thâm nhập và thông đạt tính Không, nhận thức tất cả các pháp bản lai vốn không sinh, không diệt. Nhận thức này được gọi là thuận nhẫn. Từ địa thứ bảy đến thứ chín, thuận nhẫn chuyển thành vô sinh pháp nhẫn;  Lúc đó, hết thảy thiện căn đều viên mãn, và hết thảy phiền não được diệt tận, do bởi thân và ngữ nghiệp, mà từ vô lượng y trên đó để thể hiện, bấy giờ hoàn toàn thanh tịnh - “tasyāś ca tathatārthatvāt kṣāntilābhād viśuddhitaḥ/ karmadvayād anālambā maitrī kleśakṣayād api//”[13]: vô duyên từ, vì quán chiếu chân như, vì đắc (vô sinh pháp) nhẫn, vì hai nghiệp đã tịnh và vì phiền não đoạn tận.

Hai hình thái sinh tử

Trước tiên, ta mượn viện dẫn một đoạn Lăng-già Phạn ngữ -“…saṃsāravikalpaduḥkhabhayabhītā nirvāṇam anveṣante/ saṃsāranirvāṇayor aviṣeśajñāḥ sarvabhāvavikalpā-bhāvād indriyāṇām anāgataviṣayoparamāc ca mahāmate nirvāṇā-ṇaṃ vikalpayanti napratyātmagati vijñānālayaṃ parāvṛtti-pūrvakaṃ ….”[14]:  Do sợ hãi về nỗi khổ vọng tưởng đối với sinh tử mà họ đi tìm kiếm Niết-bàn. Sinh tử và Niết-bàn vốn không sai biệt, vì hết thảy tồn tại vốn hư vọng, phi hữu. Khi thấy các căn biến mất trong cảnh giới tương lai, này Đại Tuệ! Chúng vọng tưởng là Niết-bàn; nhưng không biết rằng cái biến mất đó là A-lại-da, là kho tàng của nhận thức nội tại, đã được chuyển y từ trước”[15].

Truyền thống đại thừa[16] giải thích sinh tử thành hai loại là:  sinh tử phần đoạn là thực chứng của chúng sinh hư ngụy. Sinh tử biến dịch bất tử là trạng thái của ý sinh thân của A-la-hán, Bích-chi-Phật và Đại lực Bồ tát.

Trước hết ta nói tới Ý sinh thân, từ Sanskrit ở Saddharmalaṅkāvatārasūtram gọi là: manomaya-kāya; cũng nói là ý thành thân[17]. Có ba loại ý thành thân[18]:

1. Samādhisukhasamāpattimanomaya[19] - nhập tam-muội lạc chánh thọ ý thành thân: Bồ Tát ở các địa thứ ba, thứ tư và thứ năm khi nhập tam muội, dứt mọi tạp loạn, tâm tịch nhiên bất động; biển tâm không nổi lên các sóng chuyển thức; tâm nhận thức cảnh toàn triệt, nhưng không có gì tồn tại. Đó là thân được ý tạo thành do lạc thú của tam-muội.

 2. Svabhāvāvabodhamanomaya[20] - Giác pháp tự tánh ý thành thân, Ở địa thứ tám, Bồ Tát nhận thức rõ các pháp là như huyễn, thảy đều không yếu tính. Tâm chuyển biến sở y của nó mà an trụ vào định như huyễn và các chánh định khác, có khả năng hóa hiện vô lượng thần thông, như hoa nở, nhanh chóng theo ý muốn; như huyễn, như mộng, như ảnh, như tiếng vang; thân không do bốn đại tạo thành hay tương tợ, nhưng đầy đủ trang nghiêm mọi sắc tướng, nhập vào khắp cùng cõi Phật, thấu triệt tự thể của hết thảy các pháp, Đó gọi là thân được sáng tạo bởi sự giác ngộ về tự thể của pháp.

3. Dharmanikāyasahajasaṃskārakriyāmano-maya - Chủng loại câu sanh vô tác hành ý thành thân, thấu suốt tất cả pháp tướng tự chứng của Phật. Đó là thân được sáng tạo do vô tác hành cùng tồn tại với mọi chủng loại[21].

Asaṃskārakriyā, các bản Hán đều đọc là asaṃskārakriyā, do đó dịch là vô tác hành, và các giải thích theo ý nghĩa đó; Thuật ký nói: hành vô tương, vô công dụng. D.T Suzuki dịch theo ý các bản Hán[22]: the will-body which assumed [by a Bodhisattva according to] the class of being [to be saved] and which perfects and achieve [without a thought of its own achievement].

Bồ tát bằng bản nguyện đại lực, với sức mạnh vĩ đại của từ bi, không còn thấy có sự hiện hữu hay tồn tại của một bản ngã cá biệt của mình nữa; thế nên, không còn tiếp thu và bị chi phối  những nỗi thống khổ do hai hình thái sinh tử ảnh hưởng trên bản thân cá biệt của mình; và do đó, Lăng-già diễn tả Bồ-tát không vội nhập Niết-bàn mà muốn ôm trọn tất cả chúng sinh để hướng dẫn chúng vượt qua sự bức bách của phần đoạn và biến dịch sinh tử - “bodhisattvāḥpunar… nirodhasamādhisukhamukhaṃ dṛṭvā pūrva praṇi dhānakṛpākaruṇopetā niṣṭhapadagativibhāgajñā na parinirvānti”[23], các vị Bồ Tát khi nhìn thấy cánh cửa dẫn vào lạc thú tam muội, liền nhớ ngay đến bản nguyện đại bi của mình, tu hành đầy đủ mười phạm trù vô tận, vì thế không nhập Niết-bàn ngay[24].

Quả dị thục vi tế thù thắng được chiêu cảm bởi nghiệp vô lậu có phân biệt, thuật ngữ Lăng –già Sanskrit gọi là acintyācyutigata (vipariṇāmakī cyuti)[25], kinh Thắng man gọi là bất tư nghị biến dịch tử[26], kinh Lăng-già bản Hán dịch là: bất khả tư nghị huân tập biến dịch tử[27], đôi khi ũng được gọi là: bất tư nghị biến dịch tử[28].

Chúng sinh vì quay lưng với Phật tính nên phải chịu đủ hai hình thái sinh tử này. Cho nên, cần phải thấy được Phật tính mới thấy rõ được khởi thủy của sinh tử. Điều này, duy chỉ đức Thế Tôn, mới có thể thông hiểu được khởi thủy đó. Kể cả hàng Bồ-tát Thập địa cũng chưa biết được khởi thủy - “Na ca Mahāmate saṃsārasya pūrvakoṭiḥprajñāyate”[29]: Này Mahāmate, cũng không thể nhận thức được giới hạn tối sơ của luân hồi.

Vô minh trụ địa

Vô minh trụ địa còn được gọi là “vô minh tập địa”[30].  Vô minh tập địa, là dùng cách dịch theo kinh Thắng man. Nguyên ngữ của Lăng-già là avidyāvāsanābhūmi, kinh Thắng man hiểu là do động từ căn Ãvas (vasati): trụ, lưu trú; còn Thành Duy thức luận hiểu từ động từ căn Ãvās (vāsayati): xông hương.

Gọi là vô minh trụ địa hay vô minh tập địa vì nó vượt ra ngoài sự chi phối của các động lực chủ quan, mối quan hệ giữa bản thân cá biệt và thế giới đại đồng còn bị bao phủ trong một bóng tối dày đặc, đó là vô minh trụ địa, Vô minh trụ địa. Vô minh trụ địa ở đây chỉ cho tâm vọng tưởng. Bản thể của nó là vô minh[31].

Giải thích vấn đề này truy nguyên về Lăng-già phạn bản chúng ta thấy kinh chép như sau -“anādikālavividha prapañcadauṣṭhulya vāsanāvāsitaḥ ālayavijñānasaṃśabdito' vidyāvāsanābhūmijaiḥ saptabhir vijñānaiḥ saha mahodadhitaraṃga vannityam avyu-cchinna śarīraḥ pravartate anityatādo- ṣarahita ātmavādavini-vṛtto' tyantaprakṛtipriśuddhaḥ”[32]: nghĩa là cái được gọi là A-lại-da thức, vốn được xông ướp bởi các tàn dư tập khí tệ hại của những hý luận từ lâu đời, mà bản thân liên tục không gián đoạn, chuyển động như lớp sóng của đại dương cùng với bảy thức vốn là những mảnh đất của tàn dư tập khí vô minh. Bản Hán dịch tương đương: “Cái được huân tập bởi ác tập hư ngụy từ vô thủy, được gọi là Tạng thức, sinh ra bảy thức, là những vô minh trụ địa. Ví như biển lớn mà nổi sóng, nhưng tự thể của nó vẫn tiếp nối liên tục hằng lưu chuyển không ngừng” [33].

Lăng-già giải thích tiếp - “…ālayavijñānasaṃśabdito' vidyā-vāsana bhūmajaiḥ saptabhir vijñānaiḥ… pravartate”[34]: cái được gọi là thức a-lại-da chuyển động cùng với bảy thức (là những cái) được sản sinh từ vô minh trụ địa.

Avidyā-vāsāna-bhūmi Hán dịch là vô minh trụ địa , đồng nghĩa với mūlāvidyā -căn bản vô minh, hoặc cũng gọi căn bản bất giác, tức là điều mà luận Đại thừa Khởi tín nói: “Do không thông suốt pháp giới nhất thể tuyệt đối (ekadharmadhātu), nên không tương ưng với tâm mà hốt nhiên khởi vọng niệm, do đó gọi là vô minh”. Đó không phải là một chi trong mười hai chi duyên khởi; nhưng là một niệm bất giác khởi lên khuấy động chân tâm.

Triết thuyết Như Lai Tạng

Trên hội Lăng-già, Bồ-tát Đại Huệ hỏi đức Thế Tôn: Như lai tạng mà Thế tôn nói đến trong các Kinh, là thường hằng, kiên cố, diệu lạc, thường trú; thuyết về Như lai tạng ấy há không tương đồng với thuyết Tự ngã của các ngoại đạo? Phật nói, Như lai tạng mà Ta đề cập không tương đồng với thuyết Tự ngã của các ngoại đạo.

Bồ Tát Đại Huệ lại hỏi: “Nếu không tồn tại một tự ngã, thì cái gì sinh và cái gì diệt?”, Phật giải đáp: “Như Lai tạng là nhân của thiện và bất thiện, sáng tạo nên tất cả các cõi sinh loại”[35].

Như Lai tạng , Lăng-già Phạn ngữ - Tathāgatagạrbha; đó là chủ đề cơ bản của nhiều Kinh điển Đại thừa. Tại sao? Vì Sinh tử thì nương trên Như Lai Tạng[36]; đây là chủ đề căn bản được phân tích bởi Kinh Lăng-già - “tathagatagarbho mahāmate kuśalākuśala-hetukaḥ sarvagatikartā pravartate” [37], Như Lai tạng hoạt động như là nhân của thiện và bất thiện, là cái tạo ra định hướng của tất cả sinh loại[38].  Lăng-già nói rõ rằng không được liên hệ hoạt động của Như Lai tạng như vậy với sự tồn tại của một tự ngã như là tác giả, mà các triết gia ngoại đạo thường có xu hướng làm.

Đọc lại kinh Lăng-già, chúng ta thấy vấn đề được trình bày cụ thể - Bồ-tát Đại Huệ đã hỏi Phật[39]:  “Bạch Thế Tôn, trong nhiều đoạn kinh Như Lai tạng được Thế Tôn mô tả như là có bản chất ngời sáng, bản lai thanh tịnh, thường hằng thanh tịnh, đủ ba mươi hai tướng tốt, thường tồn tại trong thân chúng sinh. Như hạt minh châu vô giá bị bọc trong tấm vải bẩn; (Như Lai tạng) tuy bị quấn chặt bởi chiếc áo uẩn, xứ, giới, bị cáu bẩn bởi chất bẩn tham dục, thù hận, ngu si, hư vọng phân biệt các thứ, vẫn được Thế Tôn mô tả là thường hằng, trường cửu, tịch tĩnh, bất biến. Phải chăng thuyết Như Lai tạng của Thế Tôn không đồng với thuyết tự ngã của Ngoại đạo? Bạch Thế Tôn, Ngoại đạo cũng chủ trương tự ngã, rằng Ngã là tác giả, thường hằng, biến tại, không lệ thuộc yếu tố cấu thành” – và đức Thế-tôn đã trả lời: “… Các đức Như Lai sau khi giảng thuyết Như Lai tạng bằng các cú nghĩa tính không, thật tế, niết-bàn, bất sinh, vô tướng, vô nguyện; với mục đích khiến cho những kẻ phàm ngu dẹp bỏ nỗi kinh hoàng về vô ngã. Các Như Lai, A-la-hán, Chánh đẳng giác lại giảng thuyết Như Lai tạng như là vô phân biệt, vô ảnh tượng”[40].

Lăng-già đề nghị thay Như Lai tạng bằng A-lại-da thức, như vậy, có thể giải thích dễ dàng hơn bản chất và hoạt động của các quan năng nhận thức thường nghiệm - “aparāvṛtte ca tathāgatagarbhaśabda-saṃśabdite ālayavijñāne nāsti saptānāṃ pravṛttivijñānānāṃ nirodhaḥ”[41]: Nếu thức A-lại-da, được biểu thị bởi từ Như Lai tạng, mà không hoạt động, thì bảy chuyển thức biến mất.

Liên hệ tư tưởng Như Lai tạng, kinh văn tiếp tục trình bày - “Tathāgatagarbho, Mahāmate, kuśalākuśala- hetukah ïsarvajanmagatikartà pravartate naṭavadgatisaṃkaṭa ātmātmīyavarjitah”[42]: Như Lai tạng, này Đại Tuệ, là hạt nhân của thiện và bất thiện, là cái tạo ra định hướng của tất cả sinh loại, như kịch sĩ sáng tác hoạt cảnh vốn không phải là ta hay sở hữu của ta.

Ở một đoạn khác kinh nói tiếp - “Anādikālavividhaprapañcadausthulyavāsanāvāsitaḥ ālayavijñāna-saṃśabdito'vidyāvāsana-bhūmijaih saptabhir vijñānaiḥ saha mahodadhitaraṃgavan nityam avyucchinnaśarīraḥpravartate anityatādoṣarahita ātmavādavinivṛtto' tyantaprakṛtipariśuddhaḥ”[43], Cái được gọi là thức A-lại-da, vốn được huân tập bởi tập khí xấu của hý luận vọng tưởng phức tạp kể từ thời vô thủy, cùng chuyển biến với bảy thức vốn (là những cái) nảy sinh từ mảnh đất được xông bởi tập khí vô minh (tức vô minh trụ địa). Cũng như sóng của biển cả, tự thể của nó vẫn thường hằng, liên tục không gián đọạn, (Như Lai tạng) tự bản tính vốn cực kỳ thuần tịnh, vượt ngoài các quan điểm về tự ngã, không có khuyết điểm của tính chất vô thường;

Và kinh nói thêm - “…ayaṃ Tathāgata-garbhālayavijñānagocaraḥ sarvaśrāvakapratyeka buddhatīrthya-vitarkadarśanānāṃ prakṛtipariśuddho'pi san aśuddha ivāgantukleśopakiṣṭatayā teṣām ābhāti na tu Tathāgatānām”[44], Này Đại Tuệ, cảnh giới của Như Lai tạng này, mà được gọi là A-lại-da thức, tự bản chất vốn thanh tịnh, đối với kiến giải của các nhà tư biện ngoại đạo và Thanh văn, Duyên giác thì nó tồn tại như là bị ô nhiễm bởi khách trần phiền não; nhưng đối với các Như Lai thì không phải vậy.

Và ở trong kinh Lăng già, Thế Tôn nói ngài đã từng giảng dạy vấn đề này cho Thắng Man phu nhân - “etadeva Mahāmate mayā Śrīmālāṃ devīm adhikṛtya deśanāpaṭhe anyāṃś ca sùkṣmanipuṇaviśuddhabuddhīn bodhisattvān adhiṣṭhāya Tathā-gatagarbha ālayavijñānasaṃśabditaḥ saptabhir vijñānaiḥ saha pravṛtty abhiniviṣṭānāṃśrāvakāṇāṃ dharmanairātmyapradarśa-nārthaṃ Śrīmālāṃ devīm adhiṣṭhāya Tathāgataviṣayo deśito na śrāvakapratyekabuddhānyatīrthakaratarkaviṣayo- 'nyatra… Tathā-gataviṣaya eva Tathāgatagarbha ālayavijñānaviṣayas tvatsadṛśānāṃ ca sūkṣmanipuṇamatibuddhiprabhedakānāṃ bodhi-sattvānāṃ mahāsattvānām arthapratiśaraṇānāṃ no tu yathāruta-deśanāpaṭhābhiniviṣṭānāṃ sarvānyatīrthyaśrāvakapratyekabuddhānām”[45], Này Đại Tuệ, Ta đã từng giảng điều này cho Thắng Man Phu nhân và cũng hỗ trợ các Bồ Tát có trí năng vi diệu tinh tế, rằng Như Lai tạng, vốn được gọi tên là thức a-lại-da cùng chuyển động với bảy thức, mục đích là nêu rõ yếu tính vô ngã của các pháp cho các Thanh văn còn chấp trước. Ta cũng hỗ trợ cho Thắng Man Phu nhân giảng về cảnh giới của Như Lai, vốn không phải là cảnh giới của Thanh văn, Bích-chi-Phật và tư biện ngoại đạo. Nhưng cảnh giới của Như Lai chính là cảnh giới của Như Lai tạng được gọi tên là thức a-lại-da, được giảng cho các Bồ Tát thuộc hạng có trí năng thanh tịnh, tinh tế, vi diệu như ngươi, chứ không phải cho hết thảy các ngoại đạo, Thanh văn, Bích-chi-Phật chấp chặt vào văn tự giải thuyết.

Các nhà Phật học Đại thừa thường dẫn đoạn kinh sau để giải thích về Như Lai Tạng: “Như Lai tạng với tự tánh thanh tịnh này tuy bị ô nhiễm bởi phiền não khách trần và phiền não hiện khởi, nhưng vẫn là cảnh giới bất tư nghị của Như Lai. Vì sao? Thiện tâm sát-na không phải là bị nhiễm ô bởi phiền não” [46].

Sanskrit Lăng-già gọi là: kṣaṇika-kuśala-citta, hán dịch là Sát-na thiện tâm ta có thể tóm tắt từ Kinh Lăng-già như sau[47] - … kṣaṇika-dharma kuśala akuśala saṃskṛta pañcopādāna-skandhā citta-mano-manovijñānavāsanāhetukā,… - Những pháp có thuộc tính sát na (kṣaṇika-dharma) là các pháp thiện (kuśala), bất thiện (akuśala), hữu vi (saṃskṛta), vô vi (asaṃskṛta), v.v.. nói tóm, là năm thủ uẩn (pañcopādāna-skandhā) được phát triển do bởi tập khí của tâm-ý-ý thức (citta-mano-manovijñānavāsanāhetukā)… Thiện và bất thiện là tám thức… Năm thức thân (pañcavijñāna- kayā) cùng chuyển biến với ý thức như là một toàn thể đồng nhất liên tục không gián đoạn, đồng nhất không khác biệt nhau của các sát na thiện và bất thiện.

Như lai tạng mà trong Lăng-già đức Thế Tôn mô tả bằng các phạm trù ý nghĩa như tính Không, Thật tế, Niết-bàn, Vô sinh, Vô tướng, Vô nguyện, là nhắm để những kẻ ngu loại trừ nỗi sợ hãi, điên đảo về vô ngã[48].

Như Lai tạng ấy tự tính vốn thanh tịnh; nhưng bị ô nhiễm bởi khách trần mà thành bất tịnh. Điều ấy, hàng Nhị thừa cùng ngoại đạo không thể suy luận, không thể thấy, không thể hiện chứng được. Nhưng Như Lai thấy điều ấy một cách rõ ràng như thấy quả am-ma-lặc trong bàn tay[49].

Quá trình diệt ngã

Tổng quát, Lăng-già nêu quan điểm về ngã có hai loại:

1/ Câu sinh;

2/ Hư vọng phân biệt.

“Tatra Mahāmate satkāyadṛṣṭir dvividhā yaduta sahajā ca parikalpitā ca” [50]: Thân kiến có hai: 1. câu sanh, 2. hư vọng phân biệt. Ngoài văn kinh Lăng-già ra, chúng ta cũng có thể căn cứ thêm vào Thành Duy Thức để giải thích như sau:

1. Ngã chấp câu sinh: do năng lực của nhân nội tại được xông ướp bởi hư vọng kể từ thời vô thủy đến nay, thường hằng tồn tại hiện hữu cùng với thân; không cần phải chịu ảnh hưởng bởi tà giáo và tà phân biệt, mà chuyển hiện một cách tự nhiên, vì vậy gọi là câu sinh.

Loại ngã chấp này lại có hai thứ:

a. Thường tương tục, ở tại thức thứ bảy; nó lấy thức thứ tám làm đối tượng khiến khởi sinh hình tướng của tự tâm, rồi chấp đó là thực ngã.  Khởi tự tâm tướng là gì[51], có hai giải thích:

+ Tướng là ảnh tượng;

+ Tướng là cái bị chấp.

Thuật ký giải thêm, đây là tướng của tự tâm của thức thứ bảy. Hay nói cách khác sở duyên đều là tướng phần của tự tâm...

b. Có gián đoạn, tại thức thứ sáu; nó lấy hình tướng năm thủ uẩn, vốn là biến hiện của thức, làm đối tượng, hoặc tổng thể hoặc cá biệt, hay nói theo Thuật ký tức là lấy tổng thể ngũ uẩn làm đối tượng; hoăc lấy từng uẩn cá biệt làm đối tượng, sau đó khiến sinh khởi tướng của tự tâm, nhưng phải hiểu theo Thuật ký tướng của tự tâm, chỉ tướng là ảnh tượng; rồi chấp đó là thực ngã.

Cả hai chấp trước này rất khó đoạn trừ, vì rất vi tế. Về sau, trong việc tu đạo, thường xuyên tu tập sinh khởi không quán đặc biệt, hay nói theo thuật ngữ Lăng-già là Thắng sinh không quán - rotaāpannasya sadasatpakṣadṛṣṭidarśaṇāt satkāyadṛṣṭiḥ prahīṇā bhavati [52]: Khi Tu-đà-hoàn thấy rõ kiến chấp sai lầm về hữu và phi hữu, thân kiến (câu sanh) mới được đoạn trừ.”

2.  Ngã chấp do phân biệt: cũng do năng lực của ngoại duyên hiện tại, không cùng tồn tại với thân, mà cần phải có ảnh hưởng của tà giáo và tà phân biệt mới có thể phát khởi, do đó nói là phân biệt.

Nó chỉ tồn tại trong thức thứ sáu là ý. Loại này cũng có hai thứ:

+ Duyên vào tướng của uẩn được thuyết bởi tà giáo khiến sinh khởi tướng của tự tâm, rồi phân biệt suy diễn chấp là thực ngã.

+ Duyên vào tướng của ngã được thuyết bởi tà giáo khiến sinh khởi tướng của tự tâm, rồi phân biệt suy diễn chấp đó là thực ngã.

Hai loại ngã chấp này dễ bị đoạn trừ, vì thô. Khi ở sơ khởi của kiến đạo, hay gọi tắt là Sơ kiến đạo; kiến đạo có hai phần: chân kiến đạo và tướng kiến đạo, đây thuộc phần đầu. Quán chân như về sinh khởi không và pháp không của hết thảy các pháp thì có thể đoạn trừ - “sā ca tasya pudgalanairātmyagrahābhāvataḥ prahīṇā”[53] kiến chấp này bị đoạn trừ khi (Tu-đà-hoàn) không còn chấp chặt đối với nhân vô ngã.”

Thuyết bản hữu

Thành Duy thức luận, nêu quan điểm cho rằng hết thảy chủng tử đều là bản hữu, không do bởi huân tập mới phát sinh; Sanskrit ta có thuật ngữ là vāsanā, hán dịch là tập khí, huân tập, tàn khí, tập quán dư tàn. Ta phân tích từ động từ căn có trường hợp, hoăc 1/ Ãvās (vāsayati): xông ướp, xông hương. 2/ Ãvas (vasati): ở, cư trú. Ở trong kinh Thắng man theo giải thích nghĩa sau, nên dịch là trụ địa. Nhưng do ảnh hưởng của sự huân tập mà nó phát triển.

Như Chủng chủng giới đã có đề cập, mà ta có thể dẫn ở Đại thừa trang nghiêm 1[54] với tên kinh là Đa giới tu-đa-la (Bahudhātuka-sūtra), Pāli tương đương, Bahudhātuka-suttaṃ[55], đều có ghi rằng đại khái rằng: hết thảy hữu tình, từ vô thủy đến nay, có đa dạng giới, như đống ác-xoa, tồn tại một cách tự nhiên như vậy.  Ác xoa hay Ác-xoa tụ, từ Sanskrit là akṣa, hoặc rudrākṣa, Hán dịch: diên quán châu, kim cang tử; tên khoa học của nó: Eleocarpus ganitrus; theo Thuật ký: ác-xoa, có hình dạng như hat vô thực tử  無食子. Khi rụng, chúng tự nhóm lại thành đống.  

Còn Giới là tên gọi khác của chủng tử. Theo Kinh Đại thừa A-tì-đạt-ma[56], dẫn bởi Nhiếp luận thích[57]: vô thủy thời lai giới, nhất thiết pháp đẳng y. Do thử hữu chư thú, cập niết-bàn chứng đắc 無始時 來界, 一切法等依, 由此有諸趣, 及涅槃證得. Ở Thành Duy thức luận ta có tương đương: “Giới, từ vô thủy đến nay, là sở y của hết thảy pháp.”

Giới đây có nghĩa là nhân. Du-già cũng nói: “Thể của chủng tử, từ vô thủy đến nay, tương tục không đứt tuyệt; tính tuy tồn tại từ vô thủy, nhưng do sự huân tập sai biệt bởi nghiếp tịnh và bất tịnh mới phát sinh. Do quan hệ với quả dị thục được tiếp nhận thường xuyên, nó được nói là mới.”[58] Nói cách khác tự tính của các chủng tử, từ vô thủy đến nay, tuy là bản hữu, nhưng do cái mới được huân tập như là nhiễm hay tịnh mà phát khởi.

Các loại hữu tình, từ vô thủy đến nay, nếu thuộc pháp Bát-niết-bàn, tất cả thảy đều đầy đủ. Nếu không thuộc pháp bát-niết-bàn, khuyết chủng tử của ba loại bồ-đề mà ở Du-già đã nói rõ[59].

Các hữu tình đã được nói là bản lai có năm chủng tính khác nhau do đó cần phải xác định có chủng tử pháp nhĩ, không phát sinh do bởi huân tập. Tại sao ? Nhập Lăng-già 2[60] nói rõ, về chủng tính của năm thừa – “punar mahāmate pañcābhisamayagotrāṇi. katamāni pañca? yad uta śrāvakayānābhi-samayagotraṃ, pratyekabuddhayāna-, tathāgatayāna-, aniyataikataragotraṃ, agotraṃ”:  Này Đại Huệ, có năm chủng tính được hiện chứng. Đó là, chủng tính hiện chứng Thanh văn thừa, chủng tính hiện chứng Độc giác thừa, chủng tính hiện chứng Như lai thừa, chủng tính bất định, và không chủng tính.

Giải thích vấn đề này của kinh Lăng già ta có thể dẫn ở Vô thượng y kinh 1[61], hay Thiện dũng mãnh bát-nhã 1 tứcĐại Bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh, quyển 593, hội thứ 16[62]

Du-già cũng nói rõ[63] : “Sinh nại-lạc-ca, thành tựu bao nhiêu căn? ... Ba căn (vô lậu), ước hiện hành thì không thành tựu; ước chủng tử thì thành tựu”, tức là địa ngục thành tựu ba vô lậu căn, đó chính là chủng tử chứ không phải hiện hành.

Ta lại tiếp tục dẫn dài dòng ở Du-già 35[64]: Có hai loại chủng tính, chủng tính bản tính trụ (prakṛtistha-gotra), và chủng tính tập sở thành (samudānīta-gotra)... Bản tính trụ, sáu xứ của Bồ tát, với hình thái đặc biệt như thế, kể từ vô thủy lần lượt truyền đến nay, sở đắc bởi tự nhiên (dharmatā: pháp nhĩ). Tập sở thành, thiện căn đạt được do tập quán từ trước. Đó là giải thích cặn kẽ chủng tính bản tính trụ, đạt được một cách tự nhiên, từ vô thủy lần lượt tiếp truyền đến nay.

Từ các dẫn chứng như thế để ta hiểu rõ thêm thuyết bản hữu liên hệ với kinh Lăng-già, chứng minh rằng chủng tử vô lậu vốn là pháp nhĩ bản hữu, chứ không do huân tập mà phát sinh. Chủng tử hữu lậu tất nhiên cũng tồn tại một cách tự nhiên (pháp nhĩ hữu), do huân tập mà phát triển, không phải do huân tập riêng biệt mà phát sinh. Như vậy, nhân quả được thiết lập không tạp loạn.

Quan hệ các phần

Bốn phần, ở trong Thành duy thức luận có giải thích cặn kẽ, ở đây không lập lại dài dòng, mà chỉ nói về quan hệ của các phần này.

Thành Duy thức luận giải thích: Bốn phần hoặc được thâu tóm thành ba, tức phần thứ tư được coi như là phần tự chứng. Hoặc bốn phần tóm lại thành hai, vì cả ba phần sau đều có tính chất năng duyên nên được coi như là kiến phần. Ở đây nói kiến, tức có nghĩa là năng duyên.

Luận nói tiếp: Hoăc có khi bốn phần tổng quát thành một, vì thể của chúng không dị biệt;

Vấn đề này, Lăng-già giải thích – “vikalpavāsanābaddhaṃ vicitram cittasambhavam/ bahirdhā jāyate nṛṇāṃcittamātram hi laukikam/”[65] : bị dính chặt bởi tập khí phân biệt, tâm xuất hiện đa thù; người đời thấy nó xuất sinh bên ngoai, nhưng quả thực thế giới chỉ là tâm. Hán dịch, Nhập Lăng-già của Bồ-đề-lưu-chi, quyển 10[66] tương đương: 分別依熏習 種種生種種 眾生心見 我說惟心. Cũng có thể nói là do tự tâm chấp trước, tâm chuyển biến thành ảnh tợ ngoại cảnh. Thế nên, cái được thấy kia không thực hữu, cho nên nói duy tâm.

Tóm lại, rải rác nhiều nơi, duy nhất tâm được nói đến. Từ nhất tâm này cũng gồm luôn cả tâm sở. Vì vậy, hành tướng của thức chính là liễu biệt. Mà liễu biệt chính là kiến phần của thức vậy.

Các biệt danh và chứng minh sự tồn tại của ālaya

Ta thấy trong Lăng-già Phạn ngữ ālaya được gọi bằng khyātivijñāna[67] mà hán dịch là Hiện, vì các pháp hiển hiện trên đó. Từ thứ hai ta tìm thấy là vastuprativikalpa-vijñāna[68] hán gọi là Thức, tức thức phân biệt sự, đó là điều mà ta có thể dẫn bởi Vô tướng.

Tuy các hữu tình thảy đều thành tựu thức thứ tám, nhưng tùy theo ý nghĩa mà lập nhiều tên gọi khác nhau. Trong các bản kinh Đại thừa Phạn ngữ khác ta thấy ālaya còn được gọi là citta mà ở trong Thuật ký ghi: Phạn nói chất-đa 質多. Hiểu theo ngữ nguyên Sanskrit, động từ căn Ãci: tích luỹ. Nhiếp luận bản 1 cũng giải thích[69]: nói là tâm (citta), vì nó là nơi tích luỹ (ācita) chủng tử được huân tập của các chủng loại pháp sai biệt. Cũng vì nó là là nơi tích luỹ chủng tử được huân tập của các pháp vạn thù sai biệt cho nên ta gọi nó là tâm (citta).

Ālaya còn được gọi ādāna (A-đà-na) hay vijñeyāśraya (sở-tri-y) ở trong Nghĩa đăng có đến mười bốn tên gọi khác nhau[70].

Làm thế nào để có thể biết tồn tại thức thứ tám này với tự thể riêng biệt ngoài sáu thức như thức con mắt v.v..? Đó chính là câu hỏi do Luận chủ Thành duy thức tự vấn, rồi tự đáp: Do y chỉ āgama-pramāṇa tức là định lượng, chỉ Thánh giáo lượng, hay nơi chính lý của Thánh giáo như là nguồn nhận thức có thẩm quyền. Kinh Lăng-già trả lời câu hỏi này –“taraṅgā hy udadher yadvat pavanapratyayeritāḥ/ nṛtyamānāḥ pravartante vyucchedaś ca vidyate//99/ ālayaughas tathā nityaṃ viṣayapavaneritaḥ/ citrais taraṅgavijñānair nṛtyamānaḥ pravartate// 100/” [71]: Như những con sóng trên đại dương bị kích động bởi gió, người ta thấy chúng hoạt động nhảy múa không ngừng. Dòng lũ a-lại-da cũng vậy, thường xuyên bị kích động bởi gió ngoại cảnh, các con sóng thức muôn vẻ hoạt động như nhảy múa [72].

Ta có thể giải thích tổng hợp qua các tụng bản Lăng-già: Như biển gặp điều kiện gió dấy lên vô vàn sóng, hiện tiền tác dụng chuyển, không bao giờ gián đoạn. Tàng thức cũng như vậy, bị kích bởi gió cảnh, hằng dấy các sóng thức, hiện tiền tác dụng chuyển. Tức là các thức như con mắt v.v.. không thường xuyên liên tục chuyển khởi các thức như sóng trên biển cả, do đó biệt chỉ riêng biệt có thức thứ tám tồn tại.

Ta có bài kệ trong kinh Lăng-già như sau - “cittam ālayavijñānaṃ mano yan manyanātmakam/ gṛhṇāti viṣayān yena vijñānaṃ hi tad ucyate//” [73]: Tàng thức gọi là tâm; Tính tư lương là ý; Nhận biết các cảnh tướng, Chúng được gọi là thức.

Thức a-lại-da bị gió nghiệp thổi, nó y chỉ khắp trên các căn, hằng tương tục chuyển vận, đây là điều Thuật ký nói được dẫn chứng Lăng-già. Các tụng bản Lăng-già Hán dịch không có đoạn tương đương. Tập thành biên[74] dẫn Lăng-già 9[75] chúng ta không có minh văn dẫn chính xác, chỉ có đại ý tương đồng[76].

Trong kho tàng kinh điển Đại thừa, sự tồn tại của thức thứ tám được đặc biệt nói đến. Các kinh Đại thừa đều dẫn đến vô ngã, đối nghịch số thủ thú, quay lưng lại với dòng lưu chuyển mà xu hướng đến hoàn diệt, tán thán Phật, Pháp, Tăng, chỉ trích các Ngoại đạo, biểu dương các pháp như uẩn v.v.. bác bỏ thắng tính các thứ. Vậy Số thủ thú 數取趣  là gì? Nó được dịch nghĩa của từ Phạn ngữ pudgala (bổ-đặc-già-la), tự ngã như là nhân xưng hay nhân cách; chủ thể của nhận thức, và luân hồi.

Và cũng nên biết rằng tâm hữu lậu v.v… không thể chứng thật lý, Kinh nói: “Trong gia hành vị, khởi hai không quán về sinh và pháp vẫn còn mang ấn tượng về không tướng, chưa chứng thật lý, nên gọi là giả tướng”[77]; vì thế tất cả đều được gọi là phân biệt hư vọng - “yaduta ālayavijñānasya abhūtaparikalpa-vāsanāvaicitryanirodhaḥ…”[78] Khi tập khí của hư vọng phân biệt của a-lại-da thức diệt[79]… Kinh không nhất thiết khẳng định thứ tám là năng phân biệt.

Những ai hâm mộ Đại thừa đều thừa nhận các kinh đó được liệt vào các Kinh điển hiển thị chân lý không điên đảo, vì chúng được bao hàm āgama-pramāṇa: Chí giáo lượng 至教量, hay Thánh giáo lượng; tức là nguồn nhận thức chân chính, hay thẩm quyên nhận thức, có từ Thánh giáo hay Thánh điển.

Sở y của mạt-na

Lăng già nói - “ālāyaṃ hi samāśritya mano vai saṃpravartate/ cittaṃ manaś ca saṃśritya vijñānaṃsaṃpravartate”[80]:  Mạt-na y chỉ a-lại-da mà tiến hành hoạt động. Thức y chỉ tâm và ý mà tiến hành hoạt động

Thuật ngữ duy thức gọi là y bĩ chuyển 依彼轉, nghĩa là Y trên (thức) kia mà chuyển, nguyên văn phạn ngữ -“tad āśritya pravartate. Sthiramati (Bhāṣya): « tad-vāsanāśrayo hy ālayavijñānam atas tad āśritya pravartate saṃtānenotpadyata ity arthaḥ” [81], sở y của tập khí của nó là thức a-lại-da; do y chỉ trên đó mà nó vận hành, nghĩa là nó sinh khởi liên tục tiếp nối. Đoạn văn vừa dẫn nêu rõ sở y của thức này, Thức kia, tức thức năng biến thứ nhất.Du-già luận nói rằng: “Do có a-lại-da mà có mạt-na” [82], nói khác đi thức này y chỉ nơi Tàng thức.

Nan-đà và Thắng Tử dẫn bởi Thuật ký nói rằng ý này lấy chủng tử của thức (thứ tám) kia, chứ không phải thức hiện hành của nó, hay chính là Hiện thức 現識, tức hiện hành thức; phân biệt với hiện thức (khyāti-vijñā). Lăng-già giải thích – “dvividhaṃ mahāmate vijñānaṃ saṃkṣepeṇa aṣṭalakṣaṇoktaṃ khyātivijñānaṃ vastuprativikalpavijñānaṃ ca”[83] : thức được nói có tám tướng, tổng lược có hai loại: hiện thức và phân biệt sự thức; làm sở y; Vì nó vận hành không gián đoạn, nên không nương trên thức hiện hành làm sở y câu hữu để xuất hiện.

Ta tạm kết luận về ý này, Mạt-na lấy cả chủng tử và hiện thức của thức kia làm sở y. Tuy nó vận hành không gián đoạn, nhưng có chuyển dịch nên được gọi là chuyển thức. Vì vậy, nó phải tựa vào hiện thức làm câu hữu y mới có thể xuất hiện.

Ba đoạn - Năm pháp

Căn cứ theo Thành Duy Thức luận: Hối, miên duy thông kiến và tu sở đoạn, vì hiện khởi do ảnh hưởng tà kiến các thứ.  

Thuật ký giải thích thêm: Thêm từ “duy”, vì trong Tiểu thừa chúng duy thuộc tu sở đoạn; còn ở đây nói chúng thông cả kiến sở đoạn vì có thể do tà kiền mà khởi. Lại vì chúng không phải được dẫn sinh trực tiếp bởi vô lậu đạo. Tức là giải thích hối, miên không thuộc bất đoạn (phi sở đoạn). Vấn đề: khổ căn vẫn có nơi thân vị vô học; giấc ngủ cũng vậy. Nhưng khổ căn thuộc phi sở đoạn, tại sao hối, miên lại không? Không nơi thân vị hữu học được nhận thức bởi hậu đắc trí trong vô lậu đạo. Hối, miên thì không phải vậy. Và cũng không phải như ưu, do thiết tha mong cầu giải thoát. Do thiết tha cầu giải thoát mà sinh ưu.

Du-già 57[84]: “Như Kinh nói, hướng thượng hy cầu giải thoát mà sinh lo buồn (ưu thích). Hỷ như thế nào? Người tu hành suy nghĩ, nơi đó, chúng Thánh thành tựu và an trú. Cầu thế nào? Người tu hành suy nghĩ, ta sẽ thành tựu và an trú nơi đó. Buồn (thích) là thế nào? Buồn vì không thỏa mãn tình trạng hạ liệt.  Lo (ưu) thế nào? Trông mong đạt đến vô thượng.” . Ưu như vậy không đồng ố tác, cho nên, ưu căn thuộc phi sở đoạn, ố tác không phải như vậy. Cái đã bị đoạn rối thì gọi là phi sở đoạn, cho nên thụy miên nơi bậc vô học thuộc phi sở đoạn, kinh nói: “Phi sở đoạn là gì? Hết thảy pháp hữu học xuất thế gian, hết thảy pháp nơi tương tục (thân) của vị vô học; trong đó, nếu các pháp xuất thế, tự tính ở trong tất cả mọi thời nên được gọi là phi sở đoạn (không cần phải đoạn trừ, aprahātavya, apraheya). Các pháp còn lại thuộc thế gian do đã bị đoạn trừ rồi nên được gọi là phi sở đoạn.”[85]

Tầm và tứ tuy không thuộc chân vô lậu đạo, Tầm và tứ không tương ưng với vô phân biệt trí, nhưng có thể dẫn đến đó, như trong gia hành vị, do tầm và tứ dẫn khởi chân kiến đạo và được dẫn sinh bởi đó, trong hậu đắc trí có thể dẫn khởi tầm tứ, cho nên thông cả kiến, tu và phi sở đoạn.

Liên hệ đến Kinh Lăng-già, có ý kiến nói tầm tứ là phi sở đoạn, trong năm pháp - “pañca dharmāḥ, nimittaṃ, nāma, vikalpas tathatā, samyagjñānaṃ”[86] : danh, tướng, phân biệt, chính trí, như như [87]; chúng chỉ thuộc phân biệt. Vì Du-già nói chúng là phân biệt: “Các tầm tứ tất là phân biệt. Hoặc có phân biệt mà không phải là tầm tứ…”[88]

Ý kiến khác nói, cả hai cũng thuộc chính trí, vì được nói chính tư duy là vô lậu: “Chính tư dúy, y chính kiến và cùng đồng hành vói nó là tư duy ly dục, tư duy ly sân, tư duy vô hại (cũng gọi là ba thiện tầm). ở trong tu đạo, tương tục tác ý mà tư duy các đế, cùng tương ưng với tác ý vô lậu, khiên tâm thú nhập, cực thú nhập, tầm cầu, cực tầm cầu…”[89], theo đó, thể của chính tư duy là tầm. Vì chúng khiến cho tâm tầm cầu. Và vì được nói chúng là nhân của ngôn thuyết. Ở địa vị chưa cứu cánh, chưa thể có nhận thức hoàn toàn về bệnh và thuốc, trong trí hậu đắc, khi thuyết pháp cho người khác nghe, tất phải nhờ đến tầm tứ, không giống như ở Phật địa, ở đó thuyết pháp mà không cần dụng công. Vì vậy, hai thứ này cũng thông cả vô lậu. Tuy nói là tầm tứ tất nhiên là phân biệt, nhưng không nhất định nói chúng chỉ thuộc pháp thứ ba, vì trong hậu đắc chính trí cũng có phân biệt. Các vấn đề còn lại, chuẩn theo trên, như lý mà suy.

Ngoài ra Lăng-già kể có ba tính: vọng kế tính, duyên khởi tính và viên thành tính[90]; Trường hợp khác Nói y tha khởi tính chỉ bao hàm phân biệt. Biến kế sở chấp bao hàm tướng và danh. Chính trí và chân như được bao hàm trong viên thành thật[91]

Các chủng tử là tập khí của tướng, danh và phân biệt, ta nhắc lại năm pháp (pañcadharmāḥ) của Lăng-già: tướng (nimitta), danh (nāma), phân biệt (vikalpa), như tính (tathātā), chính trí (samyagjñāna). Ở đây muốn kết luận hai pháp sau là vô lậu, không đề cập trong đây, vì không phải là đối tượng của A-lại-da thức. Thân có căn là các căn thuộc sắc và y xứ của căn. Cả hai cái này được chấp thọ bởi thức, được nhận làm tự thể của thức, vì cùng chung an, nguy. Chấp thọ và xứ đều là sở duyên.

Thức dị thể

Luận chủ Thành Duy thức đặt vấn đề: Tự tính của tám thức, không thể nói xác định là nhất thể được. Bởi vì hành tướng, sở y, sở duyên, và tương ưng của chúng khác nhau. Hoặc khi một thức này diệt, các thức khác không diệt. Hình thái năng huân và sở huân của chúng cũng khác nhau.

Nhưng chúng cùng không nhất định là dị biệt. Kinh Lăng-già nói, tám thức như nước và sóng, không có sự sai biệt: “udhadheś ca taraṇgāṇāṃ yathā nāsti viśeṣaṇam/ vijñānānāṃ tathā citte pariṇāmo na labhyate/” [92]: cũng như không có sự sai biệt của các con sóng của biển; cũng vậy, không thể biết được sự chuyển biến của các thức trong tâm[93].Vì nếu tất định chúng dị biệt, sẽ không có tính nhân quả. Và vì, như huyễn sự các thứ, chúng không có định tính.

Như đã được nói ở đoạn trước, các đặc tính sai biệt của thức là y trên lý thế tục chứ không phải chân thắng nghĩa. Có ba thế tục: (saṃvṛti, chân lý theo quy ước): loka-saṃvṛti,  yukti-saṃvṛti, prāpti-saṃvṛti:

1. Thế gian thế tục, những khái niệm về nhà cửa, đoàn quân, rừng cây.

2. Đạo lý thế tục, khái niệm về uẩn, xứ, giới.

3. Chứng đắc thế tục, khái niệm về các quả vị Dự lưu v.v..

Hoặc thêm cái thứ tư: thắng nghĩa thế tục (paramārtha-saṃvṛti).  Đối lại, có bốn thắng nghĩa:

1. Đạo lý thắng nghĩa;

2. Chứng đắc thắng nghĩa;

3. Thắng nghĩa thắng nghĩa;

4. Thế tục thắng nghĩa.

Bởi vì, trong chân thắng nghĩa, tâm và ngữ đạo đều dứt tuyệt. Như kệ Lăng-già nói - “cittaṃ manaśca vijñānaṃlakṣaṇārthaṃ prakalpyate/ abhinnalakṣaṇāny aṣṭau na ca lakṣyaṃ na lakṣaṇam//”[94]: tâm, ý, thức được phân biệt theo ý nghĩa biểu thị; nhưng cả tám không có các tướng khác biệt, cái biểu thị và cái được biểu thị không khác biệt”.Lăng-già Hán ngữ ta có như sau: 心意識八種 俗故相有別 真故相無別 相所相無故; so sánh Nhập Lăng-già 9[95]: tâm ý cập ý thức, phân biệt ngoại tướng nghĩa, bát vô sai biệt tướng, phi năng kiến khả kiến 心意 及意識 分別外相義 八無差別相 非能見可見. Ở đây, ta có thể giải thích theo Thành duy thức tức là Tâm, ý, thức, tám thứ, tục nên tướng sai biệt, chân nên tương vô biệt. Tướng, sở tướng đều không.

Tam giới duy tâm

 “Mama tu mahāmate na nityā nānityā…bāhyabhāvānabhyupagamāt tribhavacittamātropadeśāt…,”[96] Ta không nói thường hay vô thường… vì hữu thể ngoại tại không được thừa nhận, vì ba hữu được chỉ thị duy chỉ tâm.

Đó là triết lý tam giới duy tâm được đề cập đến không chỉ trong Lăng-già mà còn trong khá nhiều kinh điển khác. Ta có thể đọc thêm một đoạn khác ở Dasabhūmika: “te cittamātra ti traidhātukam otaranti, api cā bhavāṅga iti dvādaśa ekacitte/”[97]:  Họ vượt qua ba cõi vốn duy chỉ là tâm, và mười hai hữu chi cũng chỉ là một tâm. Ta dẫn một vài kinh điển để giải thích vấn đề này của kinh Lăng-già:

Thập địa kinh cũng nói[98]:了達三界唯是心十二有支依心有 liễu đạt tam giới duy thị tâm thập nhị hữu chi y tâm hữu. Đoạn khác nói tiếp[99]: 是菩薩作是念三界虛妄但是一心作 thị bồ tát tác thị niệm tam giới hư vọng đãn thị nhất tâm tác.

Kinh Hoa Nghiêm, bản kinh có thẩm quyền về vấn đề này, dạy rõ: “三界虛妄. 但是心作[100] tam giới hư vọng, đãn thị tâm tác; Ở bản dịch khác cũng nói: 三界所有。唯是一心[101] Tam giới sở hữu duy thị nhất tâm.

Giải thâm mật 3: 我說識所緣唯識所現故[102] ngã thuyết thức sở duyên duy thức sở hiện cố

Tức là Sở duyên của thức duy chỉ là cái được hiển hiện bởi thức. Điều này được nói bởi Nhiếp luận (Vô Tính) 4[103].

Điểm này Thành Duy thức luận có phân tích rất rõ ràng, và cũng có nói rằng: “Các pháp đều không lìa tâm”, điều này theo Khuy Cơ được dẫn bởi Lăng-già, nhưng không có minh văn, được dẫn ở nhiều nơi trong kinh.

Tâm tương ưng, vì Tương ưng với tha tính

Ta dẫn một bài tụng trong luận Trang nghiêm kinh: 能取及所取 此二唯心光貪光及信光 二光無二法[104]: Cho rằng tâm hiện tợ thành hai; cũng vậy, hiện tợ tham, v.v.. họăc hiện tọ tín v.v..; pháp nhiễm và nhiễm không khác nhau. Lăng-già có bài kệ tương đương - “cittam davayaprabhāsam rāgādyāsam isyate tadvat/ śraddhādyābhāsam na tadanyo dharmah listakuśalo’sti//”[105]: tâm được cho là ảnh tợ của nó có hai (năng thủ và sở thủ), như ảnh tợ tham các thứ, ảnh tợ tín các thứ, ngoài nó ra không có pháp não là nhiễm hay thiện

Luận sư Duy thức đặt nghi đề: Nếu chúng chỉ là phần vị sai biệt của tâm, vì sao Thánh giáo nói tâm tương ưng, vì tương ưng tha tính chứ không tương tự tính? Lăng-già nói rằng:  “Sinh, cùng tâm tương ưng. Chết, không cùng tâm tương ưng”.”[106] Ta tìm thấy vấn đề này trong Tạp tập như sau[107]: Sau nghĩa của tương ưng; trong đó,  đồng hành tương ưng: tâm và tâm pháp cùng đồng hành hỗ tương nơi đối tượng (sở duyên)… Tương ưng vớ tha tính chứ không tương ưng với tự tính. Như tâm không tương ưng với các tâm khác (cùng tự tính)”.

Nhập Lăng già giải thích: “Tâm và tâm sở pháp cùng một thời không phải trước sau, như mặt trời và ánh sáng của nó cùng một thời, mà phân biệt thành nhièu hình thái khác nhau”[108]. Nghĩa là Tâm và tâm sở cùng thời khởi như mặt trời với ánh sáng. Đây là nói về tâm sở không phải tâm. Hay nói theo Thuật ký các nhà Hữu bộ cho rằng không có tâm sở riêng biệt, mà chỉ là phần vị sai biệt trước sau của tâm.

Các chủng tánh

Chủng tánh (gotra) ở đây cũng hiểu là chủng tử (bīja), là giới (dhātu), là tánh (prakṛti).”  Quan điểm Duy thức gọi chủng tử là công năng tiềm thế, khi đủ duyên thì phát khởi hiện hành.

Phạn bản Lăng-già (và Nhập Lăng-già 2)[109] – “pañca abhisamayagotrāṇi ... śrāvakayānābhisamayagotraṃ, pratyekabuddha-, tathāgata, anitya-taikataragotraṃ agotram[110] , Phật y trên năm hạng chủng tánh mà thành lập năm thừa[111]: chủng tánh Thanh văn thừa, Bích-chi-phật thừa, Như lai thừa, bất định thừa, và vô tánh. Hạng chủng tánh bất định, là không nhất định sẽ chứng thừa nào, mà tùy theo điều kiện ban đầu; gặp nhân duyên với thừa nào thì phát tâm và thành tựu cứu cánh trong thừa đó. Hạng vô chủng tánh, mà kinh gọi là nhất-xiển-đề, là hạng không có chủng tánh Niết-bàn.

Theo Lăng-già: Nhất-xiển-đề là hạng không có Niết-bàn tánh. Hạng này không có tín tâm để tin rằng có sự giải thoát nên không hề có ý hướng về sự nhập Niết-bàn. [112] Nhóm chủng tánh này cũng được chia thành hai nhánh:

+ Nhánh đoạn thiện căn do không có một chút gốc rễ thiện gì để có thể tin tưởng có giải thoát và Niết-bàn.

+ Nhánh thứ hai, Bồ-tát do đại bi nên vĩnh viễn không hề có ý hướng Niết-bàn[113].

Như vậy, các loại chủng tánh được kể trong kinh Lăng-già rất cụ thể, có thể tìm đọc nguyên văn của kinh để hiểu rõ hơn.

Nguồn: Hoavouu.com


[1] Saddharmalaṅkāvatārasūtram (dẫn: Laṇkā), tr. 10.

[2] Lăng-già a-bạt-đà-la bảo kinh (4 quyển), Đại 16, tr. 480a.

[3] Nhập Lăng-già kinh (10 quyển), Đại 16, tr. 519a8. Cf. Đại thừa nhập Lăng-già kinh (7 quyển), Thật-xoa-nan-đà dịch, Đại 16, tr. 590b29.

[4] Sūtrālankā, tr. 17423.

[5] Cf. Trang nghiêm kinh, tr. 659b9.

[6] Laṅkā, tr. 86.20.

[7] Đại 16, tr. 618b 26.

[8] Cf. Lankā, tr. 64:

[9] Nhập Lăng-già (Đường) 3, tr. 602b26; Cf. Giải thâm mật 4, tr. 708b6.

[10] Cf. Laṅka, tr. 41.

[11] Lăng-già 5, Đại 16, tr. 621c. Cf. Laṅkā, tr. 96.

[12] Nhập Lăng-già 7, T16n0671, tr.0554c14. Cf. T16n0672, tr.0618b17.

[13] Śūtrālaṅkāra, xvii. k. 19.

[14] Laṅkā, 27.4.

[15] Lăng-già, Đại 16, tr. 597a15.

[16] Cf. Thắng Man, Cầu-na-bạt-đà-la, Đại chánh 11, No.310. Bản việt, Tuệ Sỹ.

[17] Cf. Lăng-già (Đường) 4, tr. 607b23.

[18] Laṅkā iii, N. 136. Cf. Lăng-già, quyển 4, Đại 16, tr. 607b22.

[19] Cf. Laṅkā, tr. 56.5.

[20] Ibid, tr. 56.5.

[21] Cf. Lăng-già (bản 4 quyển), Đại 16, tr. 497c17; Nhập Lăng-già kinh, Đại 16, tr. 540b16.

[22] Studies in the Lankavatara Sutra, London, 1930.

[23] Cf. Laṅkā, tr. 87.3.

[24] Lăng-già, Đại 16, tr. 618c15.

[25] Laṅkā, N. 63.

[26] Thắng Man, Đại chánh, tr. 219c.

[27] Lăng-già (Ngụy) 2, tr. 252c18.

[28] Lăng-già, (Đường) 2. tr. 596c9.

[29] Laṅkā, tr. 95.

[30] Thành duy thức 8, Đại 31, tr. 45a 23.

[31] Bảo khốt, 52a5.

[32] Laṅkā, tr. 90.9.

[33] Lăng-già 5, Đại 16, tr. 619c5.

[34] Laṅkā, tr. 90.

[35] Tham chiếu Lăng-già 5, Đại 16, tr. 619ab.

[36] Cf. Thắng Man, Cầu-na-bạt-đà-la, Đại chánh 11, No.310. Bản Việt, Tuệ Sỹ.

[37] Laṅkā, tr. 90.7.

[38] Cf. Lăng-già 5, Đại 16, tr. 619c1.

[39] Laṅkā, tr. 33.10. Cf. Lăng-già 11, Đại 16, tr. 599b9.

[40] Ibid, Laṅkā, tr. 33.10.

[41] Laṅkā, tr. 90.18. Cf. Đại thừa nhập Lăng-già 5, Đại 16, tr. 619c13.

[42] Cf. Lanka, tr. 907.

[43] Ibid, tr. 909.

[44] Ibid, tr. 909.

[45] Ibid, tr. 909.

[46] Cf. Thắng Man, Chương XIII. Tự tánh thanh tịnh, Cầu-na-bạt-đà-la, Đại chánh 11, No.310. Bản việt, Tuệ Sỹ.

[47] Cf. Laṅkā, tr. 95 và Lăng-già 5, Đại 16, tr. 621bc.

[48] Laṅkāvatāra, 78 (Nanjio.).

[49] Lăng-già 5, Đại 16, tr. 619c. Cf. Laṅkā, tr. 90.

[50] Cf. Laṅkā, tr. 118. Nhập Lăng-già 4, bản 10 quyển, T16n671, tr.537a17.

[51] Xu yếu, Đại chánh, tr. 621c19.

[52] Laṅkā, ibid.

[53] Laṅkā, ibid.

[54] T31n1604, tr. 594b9. Cf. Thuật ký, đoạn trích dẫn từ kinh Vô tận ý, tức “Phẩm 12. Vô Tận Ý Bồ-tát,” Đại tập kinh 27-30, T12n397; biệt dịch, A-sai-mạt Bồ-tát (Akṣayamati-Bodhisattva) kinh, T12n430. Thuật ký cũng nói, phần đầu đoạn dẫn cũng được dẫn bởi Tì-bà-sa. Cf. Pháp uẩn 10 (T26n1537, tr. 501b24), phẩm Đa giới.

[55] M. iii. 61ff.

[56] Đại chánh chưa có Hán dịch.

[57] T31n1597, tr. 324a18.

[58] Cf. Du-già 3, T30n1579, tr. 284b19.

[59] Ibid., tr. 284a29.

[60] T16n671, tr. 526c8. Cf. Skt. Laṅkā p. 63.

[61] Dẫn theo Thuật ký, ghi là Đại16, số 669, chưa tìm thấy số trang.

[62] T7n220, tr. 1066a29; Skt. Suvikrāntavikrāmaparipṛcchā.

[63] Du-già 57, tr. 615a27.

[64] T30n1579, tr. 478c12.

[65] Cf. Laṅkā, 10 (Sagāthakam). 486.

[66] T16n671, tr. 576c29.

[67] Laṅkā, N. 37.

[68] Laṅkā, N.37.

[69] Nhiếp bản luận 1, Đại chánh, tr. 134a9.

[70] Nghĩa đăng 4 (tr. 729b25): Có 18 tên gọi. Tung nói: 無沒 ,, , / , 無垢, , / , , ,

, / , , , ,: 1. Vô một, không chìm, không tan biến. Có lẽ do Skt. đọc là Alaya (gốc động từ lī: layati, chìm mất, biến mất), thay vì đọc là ālaya. Dẫn luận Vô tướng: vì các chủng tử không chìm ẩn mất nên gọi là vô một. 2. Bản, hay căn bản thức, Skt. mūla-vijñāna. 3. Trạch, cái nhà, một nghĩa khác của từ ālaya. 4. Tàng, nghĩa phổ biên của từ ālaya. 5. Chủng, tức chủng tử thức. 6. Vô cấu, xem giải thích của Luận. 7. Trì, hay chấp trì thức, nghĩa của từ a-đà-na thức (ādāna-vijñāna). 8. Duyên, Skt.pratyaya. Biện trung biên (Madhyānta, k. 10) A-lại-da là điều kiện cho các thức khác xuất hiện (ālayavijjñānam anyeṣāṃ vijñānānāṃ pratyâytvāt pratyaya-vijñānam). 9. Hiển, dẫn luận Vô tương: vì nó làm hiển lộ năm căn, bốn đại (Skt. vijñapti-vijñāna?). 10. Hiện, cì các pháp hiển hiện trên đó; Skt. Khyātivijñāna (Laṅkā, N. 37). 11. Chuyển, dẫn Vô tướng: các pháp y trên nó mà sinh khởi (Skt.pravṛttivijñāna). 12. Tâm, xem giải thích trong Luận. 13. y, vì nó là y chỉ của sở tri, xem giải thích của Luận; Skt.āśraya-vijñāna. 14.Dị, tức dị thục; Skt. vipāka. 15. Thức, dẫn Vô tướng: tức thức phân biệt sự; Skt. vastuprativikalpa-vijñāna (Laṅkā, N.37). 16. Căn, chỉ cho căn bản thức của Hữu bộ. sinh, hữu. 17. Sinh,tức cùng sinh tử uẩn của Hoá địa bộ. 18. Hữu, tức hữu phần thức của Thượng tọa bộ; Skt. bhavānga. Cf. Note. dẫn bởi Tuệ sỹ, Thành Duy Thức Luận bản việt.

[71] Laṅkā ii, kā 99 tt (N. 46).

[72] Cf. Lăng-già bảo 1 (Cầu-na-bạt-đà-la, T16n0670, tr. 484b9); Nhập lăng-già 2 (Bồ-đề-lưu-chi, T16n671, tr. 523b19); Đại thừa Nhập Lăng già 2 (T16n0672, tr. 594c11).

[73] Laṅkā, N. 278. Cf. Nhập Lăng-già 9 (Bồ-đề-lưu-chi), T 671 tr. 567c14; Nhập Lăng-già 7 (Thật-xoa-nan-đà), T 672, tr. 632b26.

[74] Tập Thành biên 20, Đại chánh, tr. 432a.

[75] Lăng-già bản 10 quyển; Cf. T 671, tr. 569a11.

[76] Cf. Lăng già 6, bản 7 quyển, T 672, tr. 627c6.

[77] Nghĩa diễn 11, tr. 807c17.

[78] Laṅkā N. 38.

[79] Lăng-già (Đường) 1, tr. 593b22.

[80] Laṅkā, x. k 269; N. 301. Cf. Nhập Lăng-già 9, T 671 tr. 571c12.

[81] Triṃśa, k. 5b.

[82] Du-già 51, Đại chánh, tr. 580b14.

[83] Cf. Laṅkā. N 37.

[84] Đại chánh, tr. 618b27.

[85] Du-già 66, tr. 668a26.

[86] Laṅkā, N. 228.

[87] Cf. Nhập lăng già 7, T 671, tr. 557a26.

[88] Du-già 5, tr. 302c02.

[89] Hiển dương 2 (tr. 489b24)

[90] Bản Ngụy 7, tr. 577c25, văn không rõ. Laṅkā, N.227.

[91] Lăng-già (Đường) 5, tr. 620b27.

[92] Cf. Laṅkā 10. 389 (N.314).

[93] Nhập Lăng-già 9, T16n0671, tr.0574c01.

[94] Laṅkā 10. 388 (N. 314).

[95] Đại chánh, tr. 574b28.

[96] Laṅkā 85. 28. Cf. T16n672, tr. 618a18.

[97] Cf. Dasabhūmika, k. vi. 16.

[98] Thập địa kinh 5, T10n287, tr. 555a25.

[99] Thập địa luận 8, T26n1522, tr. 169a15.

[100] Hoa nghiêm (Phật-đà) 25, T9n278, tr. 558c10.

[101] Hoa nghiêm (Thật-xoa) 37, T10n279, tr. 194a14.

[102] T16n676, tr. 698b2.

[103] T31n1598, tr.400a10.

[104] Trang nghiêm 5, Đại chánh, tr. 613b12.

[105] Laṅkā, ibid.

[106] Nhập Lăng-già 10, T 671.

[107] Tạp tập 5, tr. 718a18-19

[108] Nhập Lăng-già 7, T 671 tr. 557c27.

[109] Lăng-già, Bản 10 quyển; T16n0671, tr.526c8.

[110] Laṅkāvatāra, Nanjio tr. 64.

[111] Phân biệt: eka-yāna, “một cỗ xe duy nhất” với ekāyana, “một con đường duy nhất”.

[112] Ibid. Note 9, tr. 527a29.

[113] Skt. ibid., tr. 66: icchantika

 

PHẬT THUYẾT DỤC TƯỢNG CÔNG ĐỨC KINH

image
Tôi nghe như vầy, một thời đức Bạt già phạn ở trên núi Linh Phong, (ở phía đông bắc) thành Vương Xá, cùng chúng đại Bí sô và cùng chư đại Bồ tát ma ha tát câu hội.

Bấy giờ, trong hội chúng có một vị bồ tát tên là Thanh Tịnh Tuệ, khởi lên ý nghĩ, do nhân duyên gì mà chư Phật Như Lai được thân thanh tịnh, lại nghĩ rằng, Phật ở đời thì thân cận, cúng dường, sau khi Phật diệt độ, cúng dường xá lợi, hai loại người này thu hoạch phước đức có bằng nhau không?  Khởi niệm này rồi, nương uy thần Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, thưa với Phật rằng:  Bạch đức Thế Tôn, chư Phật Như Lai do nhân duyên gì được thanh tịnh thân; nếu Phật ở đời thì thân cận, cúng dường, sau khi Phật diệt độ, cúng dường xá lợi, hai loại người này thu hoạch phước đức có bằng nhau không?  Bấy giờ đức Thế Tôn bảo bồ tát Thanh Tịnh Tuệ rằng, tốt lắm, tốt lắm, nay ông vì chúng sanh ở đời vị lai mà phát khởi lời hỏi như vậy, ông nên khéo nghe, Như Lai vì ông phân biệt giải nói.  Bấy giờ, bồ tát Thanh Tịnh Tuệ thưa với Phật rằng, dạ vâng Thế Tôn, chúng con xin vui muốn nghe.  Đức Phật bảo bồ tát Thanh Tịnh Tuệ rằng, chư Phật Như Lai vì cầu bồ đề nên thuở xa xưa tu tập các tam muội, giới, định, nhẫn nhục, trí tuệ, từ bi hỷ xả, giải thoát, giải thoát tri kiến, (mười năng) lực, (bốn) vô úy, tất cả Phật pháp, nhất thiết chủng trí, hết thảy toàn là những phẩm chất thanh tịnh, cho nên chư Như lai được thân thanh tịnh.  Lại lấy hoa, hương, tràng phan, bảo cái để dùng cúng dường, lại lấy nước thơm tắm thân Như Lai, lại lấy bảo cái che trùm trên thân, lấy các ẩm thực, trống nhạc, đàn ca, ngâm khen Như Lai, đem công đức này hồi hướng nhất thiết chủng trí, có được công đức vô lượng vô biên, cho đến thành tựu Vô thượng bồ đề.  Tại sao?  Trí tuệ của Như Lai vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn, Như Lai có bao phước đức cũng lại như vậy.  Thanh Tịnh Tuệ, sau khi Như Lai diệt độ, có hai loại xá lợi, một là pháp thân, hai là hóa thân.  Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân v.v... cúng dường xá lợi, bằng cách tạo hình tượng Phật nhiều như lúa mạch, tạo tháp có hình dáng như trái am la[3], cột tháp hình dáng như cây kim lớn, lọng tháp hình dáng như cánh bèo, để gìn giữ xá lợi Phật, xá lợi lượng như hạt cải lớn, được an trí trong tháp.  Công đức cúng dường xá lợi bằng với công đức cúng dường Như Lai còn ở đời, không có khác biệt.  Người cúng dường xá lợi được mười lăm thứ công đức:  một là được tâm niệm thanh tịnh; hai là được tâm tùy thuận chánh pháp; ba là được tâm hổ thẹn; bốn là được thấy Như Lai; năm là phát tâm tịnh tín; sáu là nắm giữ chánh pháp; bảy là tu hành đúng pháp; tám là được thân cận chư Phật; chín là tùy ý thọ sanh các quốc độ có Phật; mười là sanh trong nhân loại thì sanh nhà dòng dõi, tâm tánh mềm mỏng, người gặp kính trọng; mười một là vừa sanh làm người được tâm niệm Phật;  mười hai là các chúng ma quân không thể não loạn; mười ba là ở thời mạt pháp, có khả năng hộ trì chánh pháp; mười bốn là thường được mười phương chư Phật Như Lai gia tâm che chở; mười lăm là mau được thành tựu năm phần pháp thân.  Bấy giờ đức Thế Tôn nói lời chỉnh cú rằng:

Nếu dùng tâm thanh tịnh

Sau Như Lai diệt độ

Người cúng dường xá lợi

Hoặc tạo các tháp miếu

Và hình tượng Như Lai

Ở trước tháp tượng kia

Quét tô mạn đà la

Đem các thứ hoa hương

Tung rải trên tháp tượng

Lấy các nước diệu hương

Mà rưới tắm tượng Phật

Các ẩm thực thượng diệu

Giữ sạch để cúng dường

Tán lễ công đức Phật

Vô lượng khó nghĩ bàn

Trí tuệ và thần thông

Các phương tiện thiện xảo

Thảy đều đến bờ kia.

Bấy giờ, bồ tát Thanh Tịnh Tuệ nghe đức Thế Tôn nói chỉnh cú này xong, thưa với Phật rằng, Bạch đức Thế Tôn, lúc đức Phật ở đời và sau khi Ngài diệt độ, các chúng sanh ở đời vị lai tắm tượng như thế nào, cúi xin đức Thế Tôn vì chúng sanh mà chỉ bày nói rộng.  Đức Phật dạy, Thanh Tịnh Tuệ, lúc Phật ở đời, các chúng sanh phát khởi tịnh tâm, sau khi Phật diệt độ cũng nên phát khởi tịnh tâm như vậy, không nên có sự chấp tưởng rằng có Phật hay không Phật, đối với các phẩm tính tốt đẹp (của Như Lai) ôm lòng khát ngưỡng, không sanh nhàm chán.  Tại sao?  Vì làm như vậy là thành tựu pháp thân và báo thân của Như Lai.  Như Lai đã từng vì ông nói pháp bốn chân lý chắc thật, mười hai nhân duyên, sáu ba la mật, nay Như lai vì ông nói pháp tắm tượng, là cách cúng dường thù thắng nhất trong các cách cúng dường.

Thiện nam tử, nếu muốn tắm tượng, nên lấy ngưu đầu, chiên đàn, tử đàn, đa ma la hương, cam tùng, khung cùng, bạch đàn, uất kim, long não, trầm hương, xạ hương, đinh hương v.v..., lấy các thứ diệu hương như vậy, tùy theo các thứ có được mà làm thành nước tắm chứa trong đồ đựng sạch sẽ.  Trước tiên làm cái đàn hình vuông, thiết một sàng tọa đẹp, trên an trí tượng Phật, dùng các nước thơm lần lượt tắm tượng.  Dùng các nước thơm tắm khắp tượng xong, lại lấy nước sạch rưới tắm tượng đã tắm nước thơm.  Mỗi người lấy một ít nước tắm tượng, xức trên đầu của mình, rồi đốt các thứ hương làm sự cúng dường.

Khi nước bắt đầu chảy từ trên thân tượng xuống, nên tụng bài kệ:

Nay con rưới tắm chư Như lai

Thân tịnh trí, công đức trang nghiêm

Chúng sanh ngũ trược rời trần cấu

Nguyện chứng Như Lai tịnh pháp thân.

Khi đốt hương nên tụng bài kệ sau:

Giới, định, tuệ, giải, tri kiến hương

Khắp mười phương cõi thường thơm phức

Nguyện khói hương này cũng như vậy

Về làm tự tha năm loại thân.

Bấy giờ, đức Thế Tôn thuyết pháp này rồi, trong hội chúng có vô lượng đại bồ tát chứng đắc tam muội Thanh tịnh vô cấu, liền từ chỗ ngồi đứng dậy; vô lượng trời người được sự không thối chuyển đối với Vô thượng bồ đề.  Bấy giờ, tôn giả A Nan thưa với Phật rằng, bạch đức Thế Tôn, kinh này mệnh danh là gì, chúng con tiếp nhận và kính giữ như thế nào?  Đức Thế Tôn dạy tôn giả A Nan, kinh này tên là Rưới tắm chư Phật được thân thanh tịnh, tôn giả nên tiếp nhận và kính giữ như vậy.  Đức Thế Tôn thuyết kinh này xong, tất cả đại chúng trong pháp hội đều rất hoan hỷ, tin tưởng, tiếp nhận và phụng hành.

 [1] Kinh tập bộ, Đai tang kinh số 697. 大正新脩大藏經第 16 No. 0697 說浴像功德

[2] Bảo Tư Duy (693-706):  Một trong 24 dịch sư đời Đường (618-907).  Các dịch phẩm của ngài là: Phật thuyết dục tượng công đức kinh (ĐTK 697), Phật thuyết giảo lượng sổ châu công đức kinh (ĐTK 788), Đại đà la ni  Mạt pháp trung nhất tự tâm chú kinh (ĐTK 956), Quán Thế Âm bồ tát Như ý ma ni đà la ni kinh (ĐTK 1083), Quán Thế Âm bồ tát Như ý ma ni luân đà la ni niệm tụng pháp (ĐTK 1084), Bất không quyến tác đà la ni Tự tại vương chú kinh (ĐTK 1097), Phật thuyết tùy cầu tức đắc Đại tự tại đà la ni thần chú kinh (ĐTK 1154), Đại phương quảng bồ tát tạng kinh trung Văn Thù Sư Lợi căn bản nhất tự đà la ni kinh (ĐTK 1181), Na la diên thiên cọng A tu la vương đấu chiến kinh (ĐTK 1281).

[3] Am la = am một la (Amra): Luật Thiện Kiến gọi trái xoài là trái am la.

Nguồn: daitangvietnam.com

No. 697 [No. 698]

說浴像功德

如是我聞:一時,薄伽梵在王舍城鷲峯山中,與大苾芻眾及與無量諸大菩薩摩訶薩俱。爾時,會中有一菩薩,名清淨慧,作是思惟:「以何因緣諸佛如來得清淨身?」又復念言:「若佛在世親近供養,及滅度後供養舍利,此二種人所獲福德功德齊不?」作是念已,承佛威神從座而起,頂禮佛足,白言:「世尊!諸佛如來以何因緣得清淨身?若佛在世親近供養,及滅度後供養舍利,此二種人所獲福德其功等不?」

爾時,世尊告清淨慧菩薩言:「善哉,善哉!汝今乃能為未來世諸眾生故,發如是問。汝當善聽,我今為汝分別解說。

爾時,清淨慧菩薩白佛言:「唯然。世尊!願樂欲聞。」

佛告清淨慧菩薩言:「諸佛如來為求菩提,於往昔時所修三昧、戒定忍辱智慧、慈悲喜捨、解脫、解脫知見,力、無所畏、一切佛法、一切種智,悉皆清淨,是故如來得清淨身。又以華香幡蓋而以供養;復以香水浴如來身;復以寶蓋彌覆其上;以諸飲食鼓樂弦歌讚詠如來;以此功德迴向一切種智,所得功德無量無邊,乃至得成無上菩提。何以故?如來智慧無量無邊不可思議,所有福德亦復如是!

「清淨慧!我滅度後有二種舍利:一者、法身,二者、化身。若善男子,善女人等,供養舍利,造佛形像如大麥等,造塔如菴羅果,表剎如針、蓋如浮萍;持佛舍利,如芥子大安置其中,所得功德,如我在世等無差別。

「如是之人得十五種功德:一者、得淨念心。二者、得順法心。三者、得慚愧心。四者、得見如來。五者、發淨信心。六者、能持正法。七者、如說修行。八者、得親近諸佛。九者、諸佛國土隨意受生。十者、若生人中生大姓家,其心柔軟人所敬重。十一者、纔生人中得念佛心。十二者、諸魔軍眾不能惱亂。十三者、於末法時能護正法。十四者、常得十方諸佛如來恒加覆護。十五者、速得成就五分法身。」

爾時世尊而說頌曰

「若以清淨心,  於如來滅後,
 供養舍利者;  或造於塔廟,
 及如來形像;  於彼塔像前,
 掃塗漫陀羅,  以種種花香,
 散布於其上,  以諸妙香水,
 而浴於佛像,  上妙諸飲食,
 淨持以供養,  讚禮佛功德。
 無量難思議,  智慧及神通,
 諸善巧方便,  悉皆到彼岸。」

爾時,清淨慧菩薩聞佛世尊說是頌已,而白佛言:「世尊!若佛在世及滅度後未來世中,諸眾生等,云何浴像?唯願如來為眾生故,開示演說。

佛言:「清淨慧!如佛在世,諸眾生等發起淨心,於佛滅後亦應如是,不作執空有想,於諸善品心懷渴仰不生疲厭,何以故?為成就如來法報身故。我已曾為汝說四真諦法、十二因緣、六波羅蜜,我今為汝說浴像法,諸供養中最為殊勝。

「善男子!若欲沐像,應以牛頭栴檀、紫檀、多摩羅香、甘松、芎藭、白檀、欝金、龍腦、沈香、麝香、丁香,以如是等種種妙香,隨所得者,以為湯水置淨器中,先作方壇敷妙床座,於上置佛;以諸香水次第浴之;用諸香水周遍訖已,復以淨水於上淋洗。其浴像者,各取少許洗像之水,置自頭上,燒種種香以為供養。

「初於像上下水之時,應誦以偈:

「『我今灌沐諸如來,  淨智功德莊嚴聚;
  五濁眾生令離垢,  願證如來淨法身。』

「燒香之時當誦斯偈:

「『戒定慧解知見香,  遍十方剎常芬馥
  願此香烟亦如是,  迴作自他五種身。』」

爾時世尊說是法已,眾中有無量菩薩摩訶薩獲得清淨無垢三昧,即從座而起;無量天人得不退轉無上菩提。

 爾時阿難白佛言:「世尊!當何名此經?我等云何奉持?」

佛言:「此經名為『洗浴諸佛得身清淨』,應如是持。」

 是經已,一切眾會皆大歡喜,信受奉行。

 

"Lăng Già Sư" và thiền tông Trung Quốc

022  phud  hanh nguyen quan the am r a 1 122711835Từ tổ Đạt-ma đến tổ Hoằng Nhẫn, Thiền tông chưa chính thức dùng chữ “Thiền tông” làm tên gọi cho tông phái mình. Thời kỳ này Thiền tông chủ yếu y cứ vào bốn quyển “Kinh Lăng-già” và dùng kinh này để truyền thừa cho nhau. Cho nên trong “Lăng-già Sư Tư Ký” đã liệt 5 đời thiền sư (cùng với vị tổ thứ 6 là Thần Tú) làm “Lăng Già Sư”. Người đời gọi 5 vị thiền sư này (cùng với Thần Tú) là “Lăng Già Sư”, gọi giai đoạn lịch sử thiền học trước khi Thiền tông được thành lập này là “Thời kỳ Lăng-già Sư thừa”.

Đọc thêm...
 

Diệu dụng của Bát-nhã

ducphat11 Trong đại trí năng Bát-nhã, thời gian và không gian thống nhất, sự đối đãi sai biệt tan biến, khoảng cách người và ta mất hẳn, tri thức học vấn của thế gian chuyển đổi thành chân lý xuất thế gian, tình cảm cố chấp thăng hoa thành đại từ bi đối với tất cả chúng sinh, tâm ý không bị khổ lạc chi phối khuấy động, sức mạnh chỉ ác hướng thiện cũng được tăng thêm...

Đọc thêm...
 

Vì sao Đức Phật dạy quán niệm sự chết ?

03suchet 1Chết là một tài sản chung, có sẵn nơi mọi người, không lìa một ai. Ông bà mình cũng đã thấy như thế, rằng từ cao nhất thế gian như một vị vua cũng phải chết và thấp nhất tới người mang nợ tứ phương cũng phải chết.

Đọc thêm...
 


Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module

Hình ảnh

link s6
link s7

Thống kê lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterKhách online92
mod_vvisit_counterHôm qua142
mod_vvisit_counterTổng khách online384676

Your IP: 54.81.78.135
ngày 28 - Tháng 5 - 2018