Chua Cam Lo

Phật pháp

Chuỗi hạt và tội làm thân Phật chảy máu

Là một Thích Tử Như Lai con thường dạy Phật Tử phải thường xuyên niệm Phật. Một hôm có một Phật tử mời con mua xâu chuỗi hạt có hình Bổn Sư, đeo vào tay để được may mắn. Nhìn vòng chuỗi con không khỏi bùi ngùi xót xa. Chuỗi hạt chính là một phương tiện trong muôn ngàn phương tiện khác. Trong Phật giáo có vô số phương tiện và tràng hạt hay chuổi đeo tay cũng được xem là hình thức pháp khí hay vật thể đều là những phương tiện. Tuy nhiên, không phải vô cớ mà có tràng hạt hay vòng tay tràng hạt, mỗi một hình thức của một vật thể đều có một ý nghĩa biểu trưng đặc biệt của nó.
vong tay thach anh vang2

Và con cũng biết phải nương vào phương tiện để đạt cứu cánh niếp bàn, nghĩa là nhờ cần câu mới bắt được cá, nhờ nạng ná mới bắn được chim. Ngôn ngữ của nhà Thiền chính là  “kiến sắc minh tâm”. Nghĩa là nương sự để hiển lý, sự lý phải viên dung. Đó là cái chính yếu mà người con Phật luôn hướng đến. Con thường hay lang thang mạng xã hội (internet) để kiếm tìm bài vở nghiên cứu, học tập và bắt gặp vô số nhưng hình ảnh tràng hạt hay chuỗi hạt đeo tay bán đầy trên mạng xã hội. Có một hình ảnh mà làm con băn khoăn và trăn trở. Đó là hình chuổi tay rao bán trên mạng có hình Đức Phật bị khoan xuyên từ đỉnh đầu xâu vào tràng hạt như một món trang sức. Phải chăng, chúng ta vô tình tạo tội “ Làm Thân Phật chảy máu”.
f039df11d894616edb6cfc9ba3895264

*Con Xin được kể lại 1 câu chuyện : 
Khoảng giữa thế kỷ thứ VIII sau Phật Niết-bàn, tại thành La Duyệt, có một vị sư pháp danh là Bà-Tu-Bàn-Đầu từng đến học đạo với Tổ Xà-Dạ-Đa (Jayata). Ông Bà-Tu-Bàn-Đầu này tu hành tinh tấn suốt ngày đêm không nằm và sáu thời lễ bái,mặc y vá, ăn một bữa,lòng đạm bạc không mong cầu. Đồ chúng nhơn đó rất kính trọng ông
Một hôm, ông thưa với Tổ Xà Dạ Đa.
- Tôi nhớ bảy đời về trước ,vì mộ đạo nên thờ trí giả Nguyệt-Tịnh làm thầy. Thầy Nguyệt-Tịnh có lần dạy tôi: "Không bao lâu nữa ngươi sẽ chứng quả Tư-Đà-Hàm, nên siêng năng tinh tiến. Phàm tu hành như trèo lên cao, phải cố gắng tiến lần lên, không cho sụt xuống. Nếu lỡ có sụt, muốn trèo lên lại càng khó". 
 
Lúc đó, tôi đã tám mươi tuổi, nương gậy mới có thể đi được.Khi ấy, gặp Bồ-Tát Đại-Quang-Minh ra đời, tôi muốn đến đảnh lễ Ngài, bèn đi đến tịnh-xá, lễ bái xong trở về.
Chợt gặp thầy Nguyệt-Tịnh quở trách tôi: "Dốt quá, tại sao ông lại khinh cha trọng con ? Hôm trước,ta thấy ông sắp được chứng quả Tư-Đà-Hàm, hôm nay đã mất."
Khi ấy, tôi tự cho là không có lỗi, nên không phục những lời quở trách ấy. Tôi cầu xin thầy Nguyệt-Tịnh chỉ lỗi cho tôi
Thầy Nguyệt-Tịnh dạy: "Vừa rồi, ngươi đến đảnh lễ Bồ-Tát Đại-Quang tại sao lại dựng cây gậy vào mặt Phật vẽ trên vách ? Ngươi do lỗi nầy nênđã mất quả vị". 
 Tôi nhớ kỹ lại, thật đúng như lời thầy Nguyệt-Tịnh quở. Từ đó về sau, phàm có nghe lời quở trách nào của thầy, chẳng dám không tin.
Chỉ là dựa cây gậy vào hình Phật trên tường còn bị mất Quả vị sắp chứng, huống chi làm những điều vô lễ khác với hình Phật, quả báo sẽ đến mức nào ?

Ngày nay, với thời đại thông tin đại chúng giúp chúng ta tiếp cận công nghệ số một cách mau lẹ. Công nghệ số bây giờ đã phát triển không ngừng. Bao nhiêu cuộc giao dịch mua bán chỉ cần một click nhẹ chuột là có thể mua được hàng ngàn món đồ mà không cần phải ra tiệm tạp hóa hay siêu thị. Hàng Phật tử tại gia cũng có không ít người dùng tượng Phật như một món đồ trang sức, ví như làm dây chuyền, đeo cổ tay, hoặc dùng tượng Phật để trang trí, hoặc đeo tượng Phật lên người với mong muốn được Phật phù hộ độ trì cho được bình an. Tệ hơn, có nhiều ý tưởng điên rồ đến nổi làm ra hình đầu tượng Phật bổn sư, rồi  dùng mũi khoan khoan từ đỉnh đầu(nhục kế) đến cuống họng, xâu vào tràng chuỗi đeo tay để cầu xin may mắn. Còn vô số hình ảnh như vậy đầy dẫy trên mạng xã hội. Vậy, những người Phật tử chúng ta đeo những chuỗi tay đó có phải đang gián tiếp phạm tội làm thân Phật chảy máu hay không ?  

Thân thể con người vốn bất tịnh, vậy nên vốn dĩ đã không nên mang Thánh Tượng bên mình, nhưng có mấy ai hiểu được những việc làm đó là bất kính với Phật. Huống là nghĩ ra nhưng chiêu trò hình mẫu mới để đem bán thánh tượng ở chợ trời mà không hề biết cái hậu quả phía đằng sau đó.
Đã là đệ tử của Như Lai, đứng trong hàng ngũ Xuất gia hay Tại gia thì nhất nhất phải tôn kính Phật, Bồ Tát thì mới dần dần tu dưỡng được những đức tính của Phật nơi tâm của chính mình. Ngược lại, việc bất kính với Phật, Bồ Tát thì quả báo lại rất nặng nề. Đó là luật Nhân quả kể cả bậc xuất gia cũng không thể nào tránh khỏi. Tượng Phật là hình tướng tôn nghiêm chỉ để cho con người thờ cúng, lễ bái tỏ lòng tôn kính của mình đối với Phật, Bồ Tát chứ tuyệt đối không được làm trang sức hay trang trí, lại còn đục khoét thân Phật, Bồ Tát đó là một hành động thiếu hiểu biết và gieo nhân không tốt, hậu quả sẽ rất xấu xa.
  • Một câu chuyện khác
Một em gái đi chùa lễ Phật, lễ xong em vừa ra đến sân chùa, gặp một quân nhân đứng ngắm cảnh. Thấy em, quân nhân liền hỏi:
- Em đi đâu thế ?
Bé gái đáp: 
- Em đi chùa lễ Phật
- Tượng Phật bằng gỗ bằng xi măng, em lễ cái gì? 
Bé gái hỏi lại:
- Ở doanh trại anh mỗi sáng có chào cờ không? 
-Sáng nào cũng chào cờ
- Cờ làm bằng vải màu, tại sao phải nghiêm trang chào?
Quân nhân đáp:
- Chào tinh thần Tổ quốc được tượng trưng qua lá cờ, chứ không phải chào vải màu.
Bé gái nói:
- Cũng thế, em lạy tinh thần từ bi giác ngộ của Phật được tượng trưng qua hình tượng chứ không phải lạy gỗ lạy xi măng”.
Vị quân nhân đành thôi.
 
Nhiều người cho rằng Phật chỉ là xi măng sắt đá, không nên chấp vào, đó là do người đó chưa hiểu rõ nhân quả. Phật là bậc Thánh nhân, Ngài không chấp không giận, cũng chẳng bao giờ đi trừng trị kẻ mạo phạm tượng của Ngài, nhưng luật Nhân quả thì khác, luật Nhân quả cực kì nghiêm khắc, không lệ thuộc ý muốn của chúng ta, và cũng không theo sự điều khiển của Phật. Vì thế nên rất nhiều người đã hứng chịu những quả báo thê thảm vì phỉ báng hình Phật, tượng Phật . Trong kinh Phật dạy  “Tội ngũ nghịch” là:
- Thứ nhất là giết cha.
- Thứ hai là giết mẹ.
- Thứ ba là giết A La Hán `
- Thứ tư là làm thân Phật chảy máu.
- Thứ năm là phá hòa hợp tăng
Thời Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, Ngài cũng làm nên tấm gương cho chúng ta thấy. Đề Bà Đạt Đa hại Phật, làm thân Phật chảy máu. Chúng ta ngày nay ác ý phỉ báng Phật, hủy hoại hình tượng của Phật cũng có nghĩa là làm thân Phật chảy máu. Chúng ta dùng hình ảnh Phật để mua bán, đục khoét hình Phật, đây cũng là làm thân Phật chảy máu. Điều này mọi người đều biết, nhưng ý nghĩa sâu hơn thì mọi người không biết. Chúng ta thường hay đang tạo tội mà không biết. Người tạo loại tội nghiệp này rất nhiều, nhưng đều nghĩ là mình không có tạo tội ngũ nghịch, và  hoàn toàn không biết đây chính là tội ngũ nghịch mà đức Như Lai đã nói. Đây chỉ là nhìn nhận chính kiến của riêng bản thân con, còn việc ai đúng ai sai xin Thiện tri thức có sở kiến đúng đẳn chỉ dạy, Con chỉ mong lời con nói chỉ là một hạt cát hiểu biết trong đại sa mạc rộng lớn. Cúi mong thiện tri thức xem đây chỉ là một góp ý nhỏ để cùng chèo lái con thuyền chánh pháp mênh mông. - " Phàm làm việc gì phải nghĩ đến hậu quả của nó"
 
 

Thơ: Tình Mầu Nhiệm - Tuệ Nguyên

TÌNH MẦU NHIỆM

                                       Thơ : Tuệ Nguyên- Thích Thái Hòa.

Chân trời nào đây anh

Em đứng đợi.

Tình yêu nào để mở lối đi lên

Cho hôm nay và cho cả ngày mai,

Cho áo trắng em cài hoa diệu vợi!

Chân trời nào có lần anh ca ngợi

Trời quá cao, đất im lặng không lời,

         Tình đi mãi giữa tháng ngày không đợi

Tình anh yêu như sương đọng ven trời.

   Với đất trời có lần anh ca ngợi

       Trời mênh mông mà đất cũng mênh mông,

           Không quá khứ

           Vị lai,

             Và hiện tại.

   Em cứ đi và đi mãi vô cùng!

Tình yêu nào cũng trăng ngàn gió lộng

Em cứ yêu như ngày ấy anh yêu,

Em cứ yêu nhưng em đừng bắt đuổi

Vì bắt đuổi như gió đuổi mây chiều!

         Em cứ yêu nhưng em đừng bắt đuổi

       Hễ bắt đuổi em sẽ khổ đau nhiều,

             Em đau khổ bởi vì em vụng dại

             Đời ngu ngơ em bắt bóng tình yêu!

Đất và trời là tình yêu kỳ diệu

Từ ngàn xưa và mãi đến ngàn sau,

Em khôn lớn giữa đất trời chung thủy,

Phép yêu này em đã nhận ra chưa?

             Trời đất yêu em, yêu từ vô thỉ

             Mở mắt ra em đã có đất trời,

Em đừng hỏi chân trời nào nữa nhé

           Hãy buông tay, em hiện hữu ngàn nơi!

Em đừng hỏi chân trời nào nữa nhé

Em cứ yêu như ngày ấy anh yêu,

Em cứ yêu nhưng em đừng chiếm hữu

   Vì tình yêu

Mầu nhiệm lắm em ơi!

                         Trích tập thơ ‘’Sương trắng ven trời’’.

 

Góc Khuyết

Góc Khuyết

Xin kể một câu chuyện về một vòng tròn khuyết. Có một vòng tròn hắn ta bị thiếu mất một góc nên rất buồn và quyết định hành trình đi tìm cái góc còn thiếu của mình. Hắn vui vẽ hát vang và bắt đầu cuộc hành trình của mình. Trên đường đi hắn ta gặp rất nhiều gian nan và trắc trở, nào là gió tuyết mưa sa, nào là trèo đèo lội suối, có khi lại bị vùi dập dưới lớp tuyết lạnh cóng nhưng khi ánh nắng mặt trời lên, băng tuyết tan chảy, hắn ta lại tiếp tục lên đường. vì thiếu mất một góc nên hắn lăn rất chậm, nhờ vậy mà có thể nói chuyện cùng bác giun, có thể thưởng thức hương thơm của hoa dại bên đường và vui đùa cùng chú bướm xinh đẹp. Trải qua muôn vàn khó khăn hắn ta gặp nhiều cái góc nhưng lại thất vọng tràn trề vì không cái nào phù hợp với mình. Vào một ngày kia, cuối cùng hắn ta gặp cái góc còn thiếu của mình, hắn reo hò vui sướng, giờ đây hắn  đã trở thành một vòng tròn hoàn hảo. Trên đường về, hắn lăn thật nhanh vì vậy không thể nó chuyện cùng bác giun, không thể thưởng thức hương thơm các loài hoa dại bên đường nữa và đặc biệt khi hắn cất giọng hát lên thì chỉ là những tiếng tắc ngẽn khàn khàn. Bất giác hắn chợt hiểu ra, hắn dừng lại và nhẹ nhàng nhã cái góc ra, ung dung đi tiếp và hát những bài hát mà hắn thích…phải chăng mỗi chúng ta là cái vòng tròn ấy? Chúng ta luôn không bằng lòng với những gì mình có lại ước ao những thứ không phải của ta, không thuộc về ta, luôn đòi hỏi một sự hoàn hảo. Đôi  khi ta thấy tự ti về những khuyết điểm của mình, ghét bỏ nó để rồi cuộc sống của ta tràn đầy những mặc cảm, so đo, điều đó có vui chăng? Có thể ta không đẹp nhưng ta có một nụ cười ấm áp có thể giúp người  khác xóa tan những căng thẳng, sầu lo. Ta không có một trí tuệ siêu phàm nhưng ta có một con tim nhân hậu để ôm trọn những tâm hồn đơn côi lạnh giá. Ta không có nhiều tiền của nhưng sẳn lòng san sẽ những gì mình có. Ta không có bất cứ một tài năng nào nhưng ta có thể ca ngợi và hoan hỷ với tài năng của người khác.

 Đừng ngưỡng mộ những gì người khác có mà hãy nhìn lại những gì mình đang có, ta sẽ nhận ra rằng những thứ đó sẽ quý giá hơn nhiều những gì mà ta không có. Dù đi khắp năm châu bốn biển cũng không thể tìm thấy được một con người hoàn hảo. Chính những khuyết điểm ấy sẽ giúp ta nhận ra được giá trị của bản thân và nó còn dạy cho ta những bài học bổ ich. Khi trong mình còn có một góc khuyết ta không thể kiêu căng ngạo mạn, nó nhắc nhỡ chúng ta biết khiêm tốn và biết yêu thương chia sẽ với mọi người hơn. Giúp ta biết ngưỡng mộ và khen ngợi những điều mà ta mong muốn. và hãy thử nghĩ xem nếu đã là một người có nhiều ưu điểm  ta sẽ tự cao  ngã mạn và bằng lòng những gì mình có, khi ấy liệu ta còn có khát khao, những ước vọng để vươn đến những điều tốt đẹp hơn không?

Và có đôi khi chính những khuyết điểm ấy lại tạo nên điều kỳ diệu nếu chúng ta biết tận dụng chúng. Giống như câu chuyện về cái bình nứt, nhờ những vết nứt ấy mà có được những luống hoa tươi đẹp, vậy tại sao chúng ta không biến những khuyết điểm của mình trở nên hữu dụng.

Góc khuyết tuy  không đẹp nhưng nó là một phần của mình hãy chấp nhận và đối xử tốt với nó thì cuộc sống sẽ nhẹ nhàng và có nhiều niềm vui hơn.

Có  ai đó đã nói rằng: “ Dưới ánh nắng mặt trời mỗi người đều có giá trị như nhau. Hãy làm cho mình được tỏa sáng, đừng uổng phí tài năng”

 Đó chính là điều mà chúng ta cần phải biết. Trước tiên chúng ta cần phải biết tôn trọng giá trị của bản thân. Dù ta có một hay nhiều góc khuyết đi nữa thì hãy nhìn lại xem ta vẫn còn có những ưu điểm khác. Đừng nghĩa rằng ta là một kẻ bất tài chẳng làm được gì, chính những tư tưởng ấy sẽ đè bẹp ý chí của ta, làm cho ta buông xuôi trong cuộc sống. biết rằng bằng lòng những gì mình đang có để không phải so đo, mặc cảm nhưng cũng không nên tự mãn để tiếp tục phấn đấu. như ai đó đã từng nói: “ Nhìn xuống để sống, nhìn lên để phấn đấu”  hãy biến mình từ hạt cát bé nhỏ trở thành hạt ngọc trai vô giá. Điều cuối cùng muốn nhắn gửi đến mọi người là “ Đủ là còn thiếu một ít”.

Chiếu Tịnh

 

Xuất gia báo hiếu trong Phật giáo Nam tông Khmer

GN - Xuất gia báo hiếu là một nét đẹp truyền thống lâu đời của người Khmer Nam Bộ. Lễ nhập tu báo hiếu này thường được tổ chức vào khoảng thời gian trước hoặc sau Tết Chôl Chnăm Thmây.

vanhoakhmer1.jpg


Theo phong tục của người Khmer Nam Bộ, nam thanh niên 16 tuổi trở lên thường vào chùa xuất gia tu học từ một đến vài năm. Tuy nhiên, chuyện vào chùa tu là điều không bắt buộc, họ có thể tu vào lúc nào đó thích hợp và muốn tu một hay nhiều năm đều được. 

Theo HT.Danh Lung, việc đi tu báo hiếu cho ông bà, cha mẹ là một nét đẹp trong cộng đồng Phật tử trẻ Khmer; bên cạnh đó, một điều không kém phần quan trọng, là chỉ những thanh niên từng tu tập ở chùa mới dễ có cơ hội… lấy vợ. Các cô gái và gia đình họ chỉ ưng những chàng trai đã từng trải nghiệm đời sống xuất gia. 

vanhoakhmer3.jpg


Trong văn hóa của người Khmer Nam Bộ, xuất gia có nhiều hình thức, trong đó nếu vì đức tin và hoan hỷ đối với Tam bảo, Phật pháp thì người xuất gia sẽ phát nguyện thực hành đời sống phạm hạnh suốt đời. Bên cạnh đó, nhiều người xuất gia vì mục đích báo hiếu cha mẹ, thời gian tu tập lâu hay mau tùy vào sự phát tâm của mỗi người. 

vanhoakhmer4.jpg


Cộng đồng người Khmer chịu ảnh hưởng mạnh về tín ngưỡng dân gian cùng với tín ngưỡng Bà-la-môn giáo và Phật giáo. Trong đó, đáng kể nhất là Phật giáo, văn hóa Phật giáo đã chi phối hầu hết hoạt động sống của người Khmer. Họ tin rằng, theo lời Phật dạy, không có việc báo hiếu nào bằng việc đi tu để đền đáp công ơn sanh thành dưỡng dục. Việc tu tập như thế sẽ có một năng lực không nhỏ tác động đến người tập tu, giúp họ giữ gìn giới luật một cách trang nghiêm thanh tịnh, chí ít là giữ được thập giới. Bên cạnh đó, nhờ các vị thầy tế độ hướng dẫn, họ được rèn luyện, trau dồi về đạo đức nên sẽ được chuyển hóa những tập khí từ dữ sang lành. Tất cả công đức của thiện nghiệp đó họ đều hồi hướng đến ông bà, cha mẹ. 

vanhoakhmer5.jpg


Khi người con trai nào muốn vào chùa tập tu, vài tháng trước ngày lễ, họ đã phải xin phép cha mẹ đến chùa để học thuộc những bài kinh cơ bản. Trước lễ chính thức một ngày, họ được các sư làm lễ thế phát (cạo đầu), thay quần bằng chiếc xà-rông, thay áo bằng một tấm khăn vải trắng khoác lên vai từ trái sang phải. Tấm vải trắng mới này được gọi là Pênexo, một khi khoác tấm vải trắng này tức là anh ta đã từ bỏ thế tục. Trong thời gian này, gia đình người có con đi tu cũng mời chư Tăng về nhà họ để tụng kinh, cúng dường, làm lễ quy y. Bà con lối xóm của họ đều đến tham dự, họ gửi lời chúc tốt đẹp đến người con xuất gia, và người này cũng nói lời chia tay với bà con, bạn bè… 

Việc đi tu báo hiếu sẽ tạo niềm vui cho các bậc cha mẹ, làm cho cha mẹ tự hào với hàng xóm của mình. Trong mắt xóm giềng, gia đình họ là gia đình có văn hóa, nề nếp, có thuần phong mỹ tục, biết rèn luyện giáo dục con cháu thành người tốt. Do đó, hầu hết các gia đình Khmer đều mong ước có một người con đi tu. Cộng đồng Khmer cũng tin rằng qua thời gian ở chùa, người con trai sẽ được rèn luyện về mặt đạo đức và trở thành người tốt trong xã hội. 

vanhoakhmer2.jpg


Ngày nay, việc đi tu báo hiếu trong cộng đồng Khmer tuy có giảm sút, song việc tu gieo duyên một lần trong đời người con trai vẫn được xã hội coi trọng. Một người nam giới, cho dù có địa vị hay học thức cao, nhưng nếu chưa một lần vào chùa thì vẫn không thực sự được xem là người trưởng thành. 

Chia sẻ sau lễ xuất gia báo hiếu tại chùa Candaransì (Q.3, TP.HCM), sư Thọ - sinh viên năm nhất của trường Đại học Công nghệ TP.HCM, cho biết: “Nhờ việc xuất gia báo hiếu, dù chỉ mới hơn một tháng, mà giờ đây tôi đã hiểu được khá rõ về Phật giáo, xen lẫn đó là những giáo lý của Đức Phật, làm cho thân tâm tôi trở nên thanh tịnh, vui vẻ hơn. Hiện tại, việc đi học của tôi cũng rất thuận lợi, được sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè trong trường nên tất cả đều rất tốt”. 

vanhoakhmer6.jpg


Ý nghĩa đặc biệt của việc xuất gia báo hiếu là đi tu không phải để trở thành Phật mà để thành người. Theo quan niệm của người Khmer trước kia và bây giờ, việc tu là chuẩn bị cho người thanh niên có đủ đạo đức, kiến thức, lòng nhân ái để sau khi rời chùa sẽ biết cách xây dựng một cuộc sống tốt đẹp, ý nghĩa.

Bài: Vũ Giang ẢnhHuỳnh Phúc Hậu

 

Cần hiểu đúng về pháp quy y Tam bảo

GN - HỎI: Tôi năm nay đang học lớp 12, là học sinh giỏi. Gần đây, ở quê tôi có một ngôi chùa mới mở, tôi có đến chùa tham dự lễ. Khi đến chùa, tôi thấy tâm mình rất thanh tịnh, mọi lo âu cũng như áp lực cuộc sống đều tan biến. Tôi phát khởi tâm quy y Tam bảo làm Phật tử tại gia và được thầy ở chùa đó đồng ý. Tuy nhiên bố mẹ tôi lại không đồng ý.

Bố mẹ tôi nói rằng: Thứ nhất, chỉ khi nào già thì mới nên đi chùa. Thứ hai, sợ tôi lên đại học thì không theo được, mà bỏ đạo thì bị phạt nặng lắm. Thứ ba, sợ tôi quy y mà không làm đúng điều Phật dạy thì sẽ bị phạt còn nặng hơn không quy y. Tôi phải giải thích với bố mẹ như thế nào? Mong quý Báo giúp tôi, vì thực sự tôi rất muốn quy y.

(THANH MINH, Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. )

ĐÁP:

Bạn Thanh Minh thân mến!

Bạn đến chùa mà “thấy tâm mình rất thanh tịnh, mọi lo âu cũng như áp lực cuộc sống đều tan biến”, rồi “phát khởi tâm quy y Tam bảo làm Phật tử tại gia và được thầy ở chùa đó đồng ý” là bạn có nhiều căn lành. Nếu bạn biết nương vào căn lành này để hướng Phật, tự hoàn thiện mình thì chắc chắn sẽ gặt hái nhiều phước đức và thành công trong cuộc sống.

Ở tuổi bạn, trước khi phát tâm quy y Tam bảo, làm người Phật tử tại gia, bạn xin phép bố mẹ là điều cần thiết. Tiếc rằng, bố mẹ của bạn chưa hiểu rõ và đúng về pháp quy y nên chưa đồng ý. Bạn cần bình tâm, tìm cơ hội tâm tình để bố mẹ bạn hiểu đúng về pháp quy y Tam bảo mà trợ duyên cho bạn được toại nguyện.

Trước hết, quan niệm “chỉ khi nào già thì mới nên đi chùa” thực sự chưa đúng. Cần phải điều chỉnh lại là: Đi chùa càng sớm thì càng tốt! Vì sao? Đi chùa, quy y Tam bảo là nguyện nương theo Phật-Pháp-Tăng để học theo hạnh trí tuệ và từ bi, bỏ ác làm lành,  thanh tịnh thân tâm, vun bồi phước đức, trở thành một Phật tử chân chính, một công dân mẫu mực, sống lợi đạo ích đời. Trong bối cảnh đạo đức của giới trẻ có nhiều biểu hiện suy đồi, tội phạm trong giới trẻ ngày càng gia tăng, việc bạn hướng đến Phật giáo để trau dồi đạo đức, để sống thiện là một tín hiệu lành cho bản thân, gia đình và cả xã hội.

Tuổi trẻ như búp măng, cần phải uốn nắn sớm thì sau tre già mới thẳng. Nếu tuổi trẻ mà không hướng thiện, không tu dưỡng đạo đức thì không lấy gì đảm bảo có tuổi già hạnh phúc, thảnh thơi để đi chùa.

Kế đến, bố mẹ sợ bạn “lên đại học thì không theo được, mà bỏ đạo thì bị phạt nặng lắm”. Sự thật thì người Phật tử học đại học (hay làm bất cứ công việc gì) vẫn làm tròn bổn phận của mình. Sau khi quy y, người Phật tử được khuyến khích giữ năm giới (không giết hại, không trộm cướp, không tà hạnh, không nói dối, không say nghiện), mỗi tháng phát nguyện ăn chay và đi lễ chùa sám hối, cầu an ít nhất là hai ngày 14 và 30 hay 15 và mùng 1 (âm lịch).

Ngoài ra, người Phật tử luôn nỗ lực làm việc thiện để vun bồi phước đức cho mình. Hiện nay, các bạn sinh viên Phật tử vào những ngày cuối tuần tập trung về chùa tham dự các khóa tu và làm việc thiện rất đông. Sau những ngày học tập mệt nhọc, chùa là “sân chơi” lành mạnh, bổ ích được các bạn sinh viên lựa chọn. Nên nói rằng sợ “lên đại học thì không theo được” là chưa đúng. Mặt khác, như đã nói, bổn phận tu học của người Phật tử cũng đơn giản nên không có vấn đề gì phải bỏ đạo, do vậy không cần phải lo “bỏ đạo thì bị phạt nặng lắm”.

Cuối cùng là “sợ quy y mà không làm đúng điều Phật dạy thì sẽ bị phạt còn nặng hơn không quy y”. Quy y, học theo Phật là nguyện tự sửa mình, giúp mình ngày càng hoàn thiện hơn. Nếu không tự sửa mình, không sống theo lời Phật dạy, quen theo tập nghiệp làm những điều xấu ác thì chịu hậu quả. Làm cho mình tốt hơn hay xấu đi là do mình. Phật là Thầy chỉ đường, Ngài không trừng phạt ai cả mà luật nhân quả tự thưởng phạt.

Mặt khác, người có quy y học Phật mà không làm đúng lời Phật vẫn chịu quả báo nhưng khác với người không quy y. Vì ít ra, họ còn sợ tội lỗi, biết ăn năn sám hối và nguyện khắc phục. Còn người không quy y học Phật, không tin hiểu nhân quả, làm sai mà tự mình không biết hay làm sai mà không ai biết thì nghĩ mình hay nên ngày càng lún sâu vào tội lỗi, quả báo nặng nề hơn rất nhiều.

Hy vọng rằng, những sẻ chia này sẽ giúp bố mẹ của bạn hiểu đúng về pháp quy y và nhanh chóng đồng thuận, trợ duyên cho bạn quy Phật, hướng thiện để thành tựu phước đức và gặt hái thành công.

Chúc bạn tinh tấn!

TỔ TƯ VẤN
( Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. "> Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. )

 

DIỄN VĂN PHẬT ĐẢN PL.2560 - DL.2016

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ

____________________________

 

DIỄN VĂN PHẬT ĐẢN PL.2560 - DL.2016

CỦA HÒA THƯỢNG CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

 

Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

 

Kính bạch Chư tôn túc Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức

                            Tăng Ni!

Kính thưa Quý vị cư sĩ, Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài!

Thưa quý liệt vị!

 

Chúng ta đang sống trong những ngày tháng 5 lịch sử, tháng mà hằng triệu Tăng Ni, Tín đồ Phật giáo trên thế giới tưng bừng kính mừng Đại lễ Vesak (Đại lễ Tam hợp), kỷ niệm ngày Đức Phật đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni thuộc xứ Ấn Độ cổ đại, nay là Nepal cách đây 2640 năm về trước. Thời khắc trăng tròn tỏ rạng, Đức Phật đản sinh là một sự kiện trọng đại, thiêng liêng, một sự kiện hy hữu của toàn nhân loại. Ngài là bậc Đạo sư Giác ngộ tỏa ánh sáng năng lượng xóa tan màn vô minh của xã hội phân hóa giai cấp, giàu nghèo và bất công mà căn nguyên bởi tại lòng tham, sân, si của con người. Vì giáo lý trong sáng và toàn bích của Ngài là suối nguồn từ bi, trí tuệ đưa con người đến một đời sống hướng thượng đầy tình yêu thương vô ngã, thấm nhuần hương vị giải thoát giác ngộ. Kinh Nikaya có ghi: "Một chúng sinh duy nhất, một con người phi thường xuất hiện trong thế gian này, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Đó là Đấng Như Lai Chánh đẳng Chánh giác”. Sự kiện Đức Phật đản sinh là bức thông điệp hòa bình, hạnh phúc thương yêu, mở ra con đường mà tự thân mỗi người phải vượt qua sự cám dỗ và chi phối của tham ái để tiến đến cảnh giới giác ngộ, đó chính là con đường tu tập Giới - Định -Tuệ hướng đến sự an lạc, giải thoát là lẽ đích thực và cứu cánh của cuộc sống và cuộc đời hướng thượng.

Hôm nay Tăng Ni, Phật tử Phật giáo Việt Nam long trọng tổ chức Đại lễ kỷ niệm ngày Đức Phật đản sinh PL.2560 – DL.2016 trong niềm hoan hỷ vô biên hướng tới kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981 – 2016), đặc biệt là cùng với nhân dân đồng bào cả nước tích cực tham gia vào kỳ bầu cử Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021 thành công rực rỡ.

 

Nhìn lại chặng đường lịch sử 2000 năm, Phật giáo Việt Nam tự hào thời kỳ vàng son Lý – Trần với những vĩ nhân lịch sử: Vua Lý Công Uẩn và Phật hoàng Trần Nhân Tông và biết bao những vị thiền sư đại trí đã đứng ra giúp nước cứu đời, hộ quốc an dân, quả thật như Đức Phật đã dạy các đệ tử trong Kinh Đại thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán: "Thiện nam tử! Ơn của thế gian và xuất thế gian có bốn bậc: Một là, ơn Cha mẹ; hai là, ơn Tam Bảo; ba là, ơn Quốc vương; bốn là, ơn Chúng sinh. Ơn Quốc vương, vị làm chủ một quốc gia, đất nước, là người có đủ phúc đức tối thắng. Vị ấy là người có phúc đức tối thắng hơn hết thảy phúc đức của chúng sinh. Vị ấy là Đại thánh vương dùng Chính pháp giáo hóa, khiến chúng sinh trong đất nước đều được yên vui. Thánh vương lấy pháp luật trị nước làm lợi ích cho chúng sinh cũng như vậy. Như mặt trời soi sáng thế gian, Thánh vương thường quan sát thiên hạ, đem lại sự yên vui cho nhân dân. Nếu Quốc vương đem Chính pháp giáo hóa, tám sự khủng bố sẽ không xâm nhập vào trong nước được. Đó là sự xâm lược của nước ngoài, phản nghịch trong nước, ác quỷ tật bệnh, đất đai khô hạn, nhân dân thiếu đói, gió mưa trái thời, gió mưa quá thời, nhật thực, nguyệt thực và tinh tú kỳ lạ xuất hiện. Vị Đại thánh vương trong nước, coi quần sinh như con một, tâm ủng hộ họ ngày đêm không rời”. Trong mùa Phật đản năm nay, chúng ta tin tưởng và chào mừng thế hệ Lãnh đạo mới của đất nước sẽ tiếp tục có nhiều động lực tạo cho đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam luôn phát triển ổn định bền vững, thịnh vượng, trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Thưa quý liệt vị!

Kính mừng ngày Đản sinh của Đức Từ Phụ năm nay, Tăng Ni, Phật tử Việt Nam, các Ban, Viện trung ương, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam các cấp tích cực trong công tác Phật sự ích đạo lợi đời, là năm bản lề nỗ lực hoàn thành chương trình Phật sự của Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VII tiến tới Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII vào năm 2017; Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam các tỉnh, thành phố trong cả nước chỉ đạo việc tổ chức Đại hội Phật giáo cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh nhiệm kỳ 2016 – 2021 để chuẩn bị tốt cho công tác tổ chức Đại hội Phật giáo cấp tỉnh, thành phố là một bước đổi mới trong cải cách hành chính Giáo hội.

Trong không khí hân hoan kính mừng ngày Phật đản sinh, tôi cũng mong muốn các cấp Giáo hội, các địa phương sẽ có nhiều hoạt động Phật sự sáng tạo, thiết thực chào mừng kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam và hưởng ứng lời hiệu triệu trong Thông điệp của Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam bằng những kế hoạch và hành động cụ thể tích cực tham gia chương trình đã ký kết với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xây dựng thế giới hòa bình, tịnh lạc cho hành tinh chúng ta nhân ngày Đản sinh của Đấng Từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Kính chúc quý vị một mùa Phật đản vô lượng cát tường, thành tựu viên mãn các Phật sự cũng như thế sự trong hào quang gia hộ của chư Phật.

Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tác đại chứng minh! 

Nguồn: http://giaohoiphatgiaovietnam.vn/

 

Ý NGHĨA PHẬT ĐẢN PL 2560

VÔ NGÃ, HÒA HỢP

LÀ NỀN TẢNG XƯƠNG MINH GIÁO HỘI

 

HT. Thích Bảo Nghiêm

Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN

Trưởng ban Hoằng pháp Trung ương

Sự kiện Đức Phật đản sinh, thành tựu đạo quả và trở thành Đấng Giác ngộ toàn giác là một dấu son lớn trong lịch sử nhân loại. Sự xuất hiện của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là diễm phúc lớn cho xã hội loài người, Ngài là sự kết tinh của muôn ngàn hương hoa từ bi và trí dũng, Ngài là hiện thân của chân lý giải thoát, là điềm lành cho tất cả chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới hay nói cách khác là: "Vì hạnh phúc cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc và an lạc cho chư Thiên và loài người.” (Trung bộ kinh, bài kinh số 4)

            Trong tập kinh Phật Sử (Buddhavamsa) thuộc Tiểu bộ kinh có ghi: Theo thông lệ của chư Phật, chư Bồ-tát khi đản sinh phải quán sát 5 điều kiện:

1. Thời kỳ (Kàla): Tuổi thọ chúng sinh thời này không kém 100 tuổi. Do đó, Ngài xuất hiện ở thời kỳ này và tồn tại đến 80 tuổi rồi vào Niết-bàn.

2. Quốc độ (Desa): Ngài chọn Trung Ấn Độ, ở đó có nhiều sự bất đồng về giai cấp, nghèo khổ, bệnh hoạn luôn là mối đe dọa con người, nhờ thế loài người dễ hướng thiện.

3. Dòng dõi (Kula): Ngài chọn hoàng tộc Sakya. Vì giáng phàm trong dòng dõi cao quý thì việc hoằng pháp sẽ khế lý khế cơ, do đó sẽ có kết quả tốt.

4. Châu (Padìpa): Loài người đang sống và tồn tại ở bốn châu thiên hạ, Ngài chọn Nam thiệm bộ châu vì nơi này họ dễ dàng lĩnh hội giáo lý, tu hành để thành tựu đạo quả.

5. Cha mẹ (Màtara): Đức Phật là thầy của tam giới nên Ngài phải chọn người có đại duyên, đại nguyện với Ngài trong vô lượng kiếp. Vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma Gia (Mahamayadevi), hai vị này đã từng là cha mẹ của Ngài trong nhiều ngàn kiếp nên Ngài chọn hai vị này làm quyến thuộc.

          Từ khi Bồ Tát Hộ Minh thị hiện cõi Sa bà đến thành tựu quả vị Phật và nhập Niết bàn trải qua 26 thế kỷ. Xuyên suốt thời gian ấy, con người đã diễm phúc thọ nhận hồng ân Tam bảo, ba ngôi báu Phật Pháp Tăng không chỉ là niềm tin, chỗ dựa vững chắc, mang những ý nghĩa thiêng liêng thiết thực đối với Tăng Ni, Phật tử mà còn ảnh hưởng tích cực, tác động sâu sắc đến đời sống nhân loại.

          Kỷ niệm ngày đản sinh PL. 2560 còn mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt, bởi hòa trong niềm hỷ lạc vô biên của ngày khánh đản, đó là niềm hân hoan phấn khởi trước những thành tựu và sự phát triển bền vững của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong suốt chặng đường 35 năm thành lập Giáo hội Phật Giáo Việt Nam trên tinh thần đoàn kết hòa hợp.

          Sự kiện thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981 là một bước ngoặt lớn trong trang sử vàng của Phật giáo nước nhà, sự thành tựu đầu tiên đó là thống nhất được các hệ phái hình thành nên Giáo hội Phật giáo Việt Nam, và trong 35 năm qua Phật giáo đã từng bước ổn định phát triển và hòa nhập cùng khắp năm châu.

          Với tinh thần đoàn kết đã hình thành nên một Giáo hội hòa hợp ổn định và phát triển, điều này đã được Đức Phật đề cập trong kinh Đại Bát Niết Bàn: "Này các Tỷ khưu, khi nào các chúng Tỷ khưu tụ tập trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết và làm việc tăng sự trong niệm đoàn kết, thời này các Tỷ khưu, chúng Tỷ khưu sẽ được cường thịnh không bị suy giảm”. Thời đức Phật tại thế, tư tưởng đoàn kết đã được Ngài đặc biệt quan tâm, Ngài luôn nhắc nhở chư Tăng phải luôn đoàn kết trong sinh hoạt hằng ngày cũng như trong mọi Phật sự. Đoàn kết chính là cơ sở để tinh thần hòa hợp thanh tịnh của chư Tăng ngày càng thăng hoa và lan tỏa.

          Từ khi thành tựu đạo quả, để giáo pháp được lưu truyền, Đức Phật đã thành lập nên Tăng đoàn – Chính những vị đệ tử của Ngài đã đem lại một giá trị đạo đức cao quý cho cuộc sống tâm linh nhân loại, ngoài lý tưởng giải thoát chỉ dạy cho hàng đệ tử tu tập, với xã hội Ngài luôn hướng đến một cuộc sống an lạc và hạnh phúc. Bảy pháp bất thoái chuyển không chỉ vì mục đích ngăn ngừa cuộc xâm lăng mà còn vì sự hưng thịnh của một xứ sở trong đó mọi người được sống hạnh phúc và hòa bình. Tất cả mọi quốc gia đều có thể áp dụng bảy phương pháp ấy để được vững mạnh. Trong Trường Bộ kinh Đức Phật đã nêu lên 7 yếu tố đó như sau:

1. Thường hội họp nhau và giải quyết vấn đề chung của quốc gia.

2. Đoàn kết hòa thuận với nhau.

3. Thi hành đúng theo pháp luật chế định.

4. Tôn kính bậc trưởng thượng.

5. Tôn trọng hàng phụ nữ.

6. Bảo tồn các đền thờ trong xứ.

7. Sùng bái các tiền nhân.

Với phương châm lấy trí tuệ làm sự nghiệp, và chính nhờ vào ngọn đuốc trí tuệ của chính pháp mà hàng tứ chúng của Đức Phật luôn lấy đó làm hành trang trên con đường hoằng pháp độ sinh, sống với tinh thần vô ngã và vị tha, tiếp thu văn minh nhân loại theo khuynh hướng hội nhập phát triển có sự chắt lọc. Cốt lõi này thường được các nhà hoằng truyền giáo pháp thể nghiệm gọi là "tùy duyên nhưng bất biến” đã giúp cho Phật giáo tồn tại và phát triển hơn hai ngàn năm qua. Cho đến ngày nay, Phật giáo vẫn tiếp tục là kim chỉ nam hướng loài người sống hòa bình, an vui, hạnh phúc.

Để tưởng nhớ một cách tốt đẹp nhất về Đức Bản sư của chúng ta, nhân ngày Lễ Phật đản năm nay, mỗi người con Phật hãy luôn có ý thức, sống theo nếp sống chan hòa của đạo đức Phật giáo như tinh thần kinh Pháp Cú mà Đức Phật đã dạy:

"Ai dùng các hạnh lành,

Làm xóa mờ nghiệp ác,

Sẽ chói sáng đời này,

Như trăng thoát mây che”.

                         (Kinh Pháp cú số 173)

       Hôm nay, chúng ta đón mừng Đại lễ Phật đản PL.2560 trong bối cảnh thế giới vẫn còn nhiều mâu thuẫn, các vụ xung đột sắc tộc và tôn giáo là nguyên nhân dẫn đến những cuộc khủng bố đẫm máu gây chết chóc tang thương cho người dân vô tội. Mặt khác, biến đổi khí hậu từng ngày đang đe dọa tính mạng hàng tỷ người trên hành tinh, trong đó đất nước Việt Nam của chúng ta đang phải gánh chịu một phần hậu quả nghiêm trọng. Xu hướng toàn cầu hóa, tình hình an ninh khu vực trên biển Đông, thực trạng này đã tác động, ảnh hưởng đến đời sống xã hội và an ninh đất nước. Với truyền thống yêu nước, hộ quốc an dân, đồng hành sắt son với dân tộc, Phật giáo Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc sự thịnh suy của Phật giáo liên quan mật thiết đến sự tồn vong của dân tộc. Do đó là người con Phật, chúng ta phải sống có trách nhiệm với cộng đồng xã hội, lấy lý tưởng vô ngã và tinh thần hòa hợp làm nòng cốt cho mọi hoạt động Phật sự, đồng lòng chung sức góp phần cho sự nghiệp phát triển phồn vinh của đạo pháp và dân tộc.

          Đại lễ kỷ niệm Phật Đản PL.2560 là để mọi người con Phật tưởng nhớ về Ngài, Bậc khai đạo, chỉ đạo và hướng đạo. Một bậc Thầy hoàn thiện của Chư thiên và loài người, để mỗi chúng sinh luôn hướng về những giá trị tốt đẹp của cuộc sống, xây dựng một xã hội hòa bình, hạnh phúc, an lạc đúng như hạnh nguyện lúc đản sinh của Ngài: "Khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến”, để nhân loại trở về với bản thể Phật tính chân như, để khắp nhân gian đều an bình, hòa hợp trong chính pháp. Ý nghĩa cao cả này là đóa hoa tinh khiết dâng lên cúng dường ngày đản sinh của đấng Từ phụ Thích Ca Mâu Ni.

Nguồn:http://giaohoiphatgiaovietnam.vn/

 

Luật học - Mấy vấn đề nhìn lại

Trong lời tựa của sách YẾT MA YẾU CHỈ, Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ đã viết: “Theo quan điểm Bộ phái Đàm Vô Đức, tức các vị thọ trì luật Tứ Phần, thì một trong các dấu hiệu về sự diệt tận của Chánh pháp là các pháp yết- ma hoàn toàn không được thực hiện, không có pháp yết- ma sẽ không có các Tỳ-kheo đắc giới  như pháp, bản thể của Tăng không thành tựu. Không có sự tồn tại của Tăng thì Chánh pháp mà Phật giảng dạy sẽ không có người tu và chứng. Như vậy có nghĩa là Chánh pháp sẽ không tồn tại. Cho nên, việc học hỏi các học xứ trong giới kinh và thông suốt các pháp yết-ma là phận sự hàng đầu của các Tỳ kheo trong suốt 5 năm đầu kể từ khi đắc giới Cụ túc. Đây là điều kiện căn bản tác thành tư cách bậc Thầy hàng Thượng tọa trong Tăng chúng. Nếu Tỳ-kheo không hoàn tất phận sự học hỏi nầy, thì không bao giờ được phép rời Y chỉ sư, dù cho tuổi đời 80 và tuổi hạ 60, nghĩa là luôn luôn phải sống nương tựa vào bậc Thượng tọa, không được phép thế độ người xuất gia. Đây là điều quy định trong tất cả Luật tạng, cần phải nghiêm túc chấp trì vì sự tồn tại bền vững của phật pháp”.

Những lời dạy đầy tâm huyết và quyết đoán trên đây của một vị Luật sư, bậc Thầy nổi tiếng của chúng ta đã khuất bóng cách đây chưa lâu, quả thật là một lời nhắc nhủ mà những vị Tỳ-kheo nào có ý thức và tinh thần tự trọng đều phải tự nhìn lại chính mình và phải để tâm vào Luật học. Thế nhưng việc chấp trì và xiển dương Luật học như thế nào để tạo được niềm tin cho đàn hậu học, mọi quyết nghị của Tăng phải có y cứ vào Luật tạng. Nếu không, khi thực hiện các Tăng sự, mỗi vị Luật sư tự ý thêm bớt hoặc thay đổi theo ý mình, khiến cho việc tác pháp Yết ma chỉ còn là chiếu lệ, không toát lên được cái uy lực của Tăng, từ đó cái không khí thiêng liêng, sinh động của Tăng sự cũng bị suy giảm. Dẫu biết rằng “phương tiện tùy nghi, vô thi bất khả”, nhưng tùy nghi mà không có cơ sở, e rằng sẽ không khỏi tạo nên một tiền lệ kéo theo những hệ quả khó lường, khi mà Luật học mỗi ngày càng bị lớp hậu sinh xao lãng, thực hành một cách lỏng lẻo, thiếu nghiêm túc. Dưới đây là những chia sẻ trong dòng suy nghĩ ấy.

I . Phải chăng ý nghĩa và giá trị của Tứ Thánh chủng không còn thiết thực nữa đối với đời sống của một vị Tỳ Kheo trong thời đại ngày nay ?

Căn cứ vào sách Đại Học Hoằng Giới Chi Thư, một quyển sách được xem như là cẩm nang cho các nghi tắc truyền giới của Tăng mà tôi thấy các Ngài Luật sư trước đây thường cầm trên tay, để trước mặt mỗi khi ngồi vào giới trường để truyền giới Cụ túc, thì sau khi bạch tứ Yết-ma thành tựu, các vị tân Tỳ-kheo sẽ được Giới sư truyền pháp Tứ khí, đến pháp Tứ y và sau đó mới truyền y, bát ngọa cụ v.v…Sách Yết-ma yếu chỉ (Hòa thượng Thích Trí Thủ giảng thuật, Tỳ kheo Thích Đổng Minh, Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng soạn tập), Luật Tứ phần (HT. Thích Đổng Minh việt dịch, TK. Thích Nguyên Chứng và Thích Đức Thắng hiệu đính & chú thích), Luật Ngũ Phần (HT. Thích Đổng Minh việt dịch),

Luật Học Tinh Yếu (HT. Thích Phước Sơn)… tất cả đều thống nhất giống nhau một pháp thức như thế. Nhưng rất tiếc trong một số giới đàn gần đây, khi mà các vị Luật sư bậc thầy trên đây đã viên tịch, thì Pháp Tứ Y đã bị loại bỏ mà thay vào đó thì truyền Bốn pháp cần làm của Sa môn, đó là:

1)   Bắt đầu từ ngày nay đến suốt đời, nếu có người mắng, quý vị không được mắng lại.

2)    Bắt đầu từ ngày nay đến suốt đời, nếu có người giận, quý vị không được giận lại.

3)   Bắt đầu từ ngày nay đến suốt đời, nếu có người đùa giễu, quý vị không nên đùa giễu lại.

4)   Bắt đầu từ ngày nay đến suốt đời, nếu có người đánh, quý vị không nên đánh lại.

Trong khi đó, theo các bộ luật trên đây, thì pháp Tứ Y là:

1)   Tỳ kheo sống nương tựa vào y phấn tảo; nương theo đó mà xuất gia, mà thọ Cụ túc giới, thành phẩm chất Tỳ-kheo. Ngươi phải trọn đời thọ trì điều nầy. Trường hợp đặc biệt được phép thọ dụng y do đàn việt cúng dường, y đã được cắt rọc hay hoại sắc.

2)   Tỳ kheo sống nương tựa vào sự khất thực; nương theo đó mà xuất gia, mà thọ Cụ túc giới, thành phẩm chất Tỳ-kheo. Ngươi phải trọn đời thọ trì điều nầy. Trường hợp đặc biệt được thọ dụng, là Tăng sai thọ thực, hay đàn việt cung cấp các bữa ăn định kỳ mỗi tháng các ngày mồng một, mồng tám, ngày rằm, hoặc các bữa ăn thường của Tăng, hay đàn việt thỉnh mời.

3)   Tỳ kheo sống nương tựa vào dưới gốc cây mà ngủ nghỉ; nương theo đó mà xuất gia, mà thọ Cụ túc giới, thành phẩm chất Tỳ-kheo. Ngươi phải trọn đời thọ trì điều nầy. Trường hợp đặc biệt được thọ dụng là một căn phòng riêng biệt, một ngôi nhà góc nhọn, một căn phòng nhỏ, một hang đá hay hai căn phòng có chung một cửa.

4)   Tỳ kheo sống nương tựa vào các loại thuốc hủ lạn; nương theo đó mà xuất gia, mà thọ Cụ túc giới, thành phẩm chất Tỳ-kheo. Ngươi phải trọn đời thọ trì điều nầy. Trường hợp đặc biệt được thọ dụng là tô, sanh tô, đường phèn và mật

Khi được chia sẻ điều nầy, có nhiều vị đã nói rằng : “Bây giờ không có Tỳ kheo nào dùng y phấn tảo, cũng không có vị nào đi khất thực, không còn ai phải ngủ dưới gốc cây, cũng như khi đau ốm mà dùng hủ lạn dược, nên truyền bốn Pháp cần làm là thiết thực hơn”.

          Tôi thật sự phân vân, không hài lòng nếu không muốn nói là buồn man mác khi nghe cách giải thích như vậy! Đành rằng, ngày nay không còn ai phải đi lượm từng miếng giẻ rách về giặt, nhuộm và may thành y để mặc như các vị Tỳ-kheo dưới thời Phật còn tại thế, nhưng có nên chăng, vì có tín đồ cung phụng đầy đủ mà đã có không ít những vị Tỳ-kheo y hậu đụng đâu vất đấy, khi

rời khỏi trú xứ cũng chẳng mang theo y, nếu cần thì bây giờ có rất nhiều cửa hàng bán pháp phục Tăng Ni, bảo một tiếng là tín đồ chạy đi mua ngay, có sẵn. Hoặc đã có nhiều vị mua sắm hàng chục bộ y hậu gấm vóc đắt tiền, đủ màu đủ sắc để chưng trong tủ kính sang trọng với đầy vẻ tự hào…? Trong những trường hợp như thế, thiết nghĩ việc nhấn mạnh về điều căn bản của một vị Tỳ-kheo là phải trọn đời nương vào y phấn tảo, cũng là lời cảnh tỉnh để cho họ khởi tâm biết tàm quý, bớt sự phóng dật, thì đâu phải là điều vô ích !

Đành rằng, ngày nay Tu sĩ Bắc tông không còn ai phải trì bình đi khất thực, nhưng chí ít mỗi bữa ăn cũng còn phải biết duy trì phép tam đề, ngũ quán, để tự nhắc nhủ mình còn nặng nợ áo cơm của tín thí thập phương, để tự sách tấn tu tập, thì ý nghĩa y khất thực đối với một vị Tỳ-kheo đâu phải là vô bổ, không thiết thực!

Đành rằng, ngày nay không còn có vị Tỳ-kheo nào phải ngồi dưới gốc cây để ngủ nghỉ, nhưng nhắc lại phẩm chất Tỳ-kheo là phải y thọ hạ, ít ra cũng hạn chế được tình trạng những vị Tu sĩ mà sống quá xa hoa, phù phiếm, hưởng thụ những vật dụng, tiện nghi cá nhân một cách quá đáng, khiến cho thế nhân mỉa mai, ngoại đạo hủy báng…; đó không phải là điều thiết thực hay sao !

Còn điều y hủ lạn dược, tôi nghĩ, chính là để nhắc nhủ cho chúng ta, những người xuất gia đệ tử Phật, tuy biết rằng ngũ uẩn giai không nhưng khi tứ đại bất điều, thì cũng phải dùng thuốc chữa trị chứ không xem thường mạng sống. Ý nghĩa quan trọng hơn nữa, đó là tuy chữa bịnh trong hoàn cảnh y tế phát triển của xã hội ngày nay, nhưng đã là vị Tỳ-kheo thì cũng phải biết khiêm tốn, khắc kỷ, tri chỉ, tri túc; chứ không phải vì lắm bạc nhiều tiền mà học đòi vương giả, vào bịnh viện cũng tự cho mình là quan trọng hơn, mong được ưu tiên mọi thứ tiện ích như các đại gia, cán bộ cao cấp, hay những ông hoàng bà chúa đương thời; thật đáng hỗ thẹn nếu biết nhớ nghĩ lại những phẩm chất chân chính của một vị Tỳ kheo !

Do đó, Pháp tứ y còn được gọi là Tứ Thánh chủng, là những chất liệu cơ bản để nuôi lớn hạt giống Thánh, hay nói cách khác, đó chính là những yếu tố cơ bản để thành tựu phẩm hạnh một vị Tỳ-kheo, những người có khả năng nối tiếp dòng giống Phật. Vị Tỳ-kheo nào sống theo pháp Tứ y tức là có đời sống thanh tịnh, tức có chánh mạng; có đời sống ly dục. Chính bởi ý nghĩa nầy mà giới Tỳ-kheo còn được gọi là Cụ túc, vì nó thể hiện trọn vẹn mẫu mực đời sống của một Thánh giả A la hán. Vì thế mà các vị Luật sư chân chính đều cho rằng : “Trong bất kỳ thời điểm nào, xã hội nào, chân dung của người Tu sĩ cũng vẫn là như thế. Bốn tiêu chuẩn được gọi là Tứ Thánh chủng nầy, bất kỳ một hành giả nào mang hoài bảo nhiếp độ hàm linh, thành tựu quả vị tối thượng, thì nhất định không được sống xa rời những tiêu chuẩn đó.” (trích Theo Dấu Chân Xưa – HT. Thích Minh Thông). Tiếc thay những ý nghĩa và giá trị cao quý nầy, ngày nay đang có dấu hiệu bị chối bỏ !

II – Việc chấp trì Bát Kỉnh Pháp

Kinh Luật ghi lại rằng, khi đức Thế Tôn còn tại thế, Bà Đại Ái Đạo cùng với 500 Xá di vì cảm mộ Phật pháp nên đã tự nguyện cạo tóc, đến đứng ngoài cửa, ngữa mặt chấp tay, ngưỡng trông tinh xá Kỳ Hoàn vô cùng thành khẩn, rồi nhờ Tôn giả A Nan ba phen cầu thỉnh, Đức Phật mới bằng lòng cho nữ giới xuất gia. Nhưng Ngài dạy rằng: Chánh pháp đáng lẽ truyền được 1.000 năm, thì do việc độ Ni sẽ bị giảm còn phân nửa. Tôn giả A Nan nghe vậy liền lo lắng, buồn khóc vì việc xin Phật cho nữ giới xuất gia. Đức Phật bèn dạy : Muốn Chánh pháp khỏi bị suy giảm, thì Ni giới phải tuân sùng Bát kỉnh, cung phụng Tam tôn. Rồi Ngài bảo A Nan truyền lại, bà Đại Ái Đạo liền cung kính cúi nghe và xin chân thành vâng giữ. Nguyên do Bát Kỉnh Pháp ra đời là từ đó.

Đã vậy mà ngay sau khi đức Thế Tôn thị tịch, Tôn giả A Nan còn bị Trưởng Lão Ca Diếp kết tội: Vì xin  Phật cho người nữ xuất gia nên phạm tội Đột cát la, phải sám hối.

Bát Kỉnh Pháp là tám pháp mà Tỳ kheo Ni phải suốt đời tuân kỉnh. Trong đó, điều thứ tư là: Thức Xoa  Ma Na học giới xong phải thỉnh cầu Tỳ kheo Tăng mà thọ giới Cụ túc.

Do đó, tất cả các bộ luật đều thống nhất ghi: Khi Thập sư Ni tác Bản pháp yết-ma xong, liền ngay trong ngày đó phải đưa các giới tử Ni đến giữa đại Tăng để cầu thọ đại giới, nếu trái tức phạm. Tác Bản pháp yết-ma là chỉ bạch tứ yết ma để hỏi Ni tăng có đều đồng ý cho Thức xoa ma na (tên là a, b …gì đó) thọ Cụ túc giới hay không, chứ không phải là đã trao y, truyền giới gì cả. Có lẽ vì sợ sau nầy sẽ có người nhầm lẫn chỗ đó, nên trong sách Giới Đàn Tăng, Cố HT. Thích Thiện Hòa có ghi mấy điều dặn dò, cụ thể là Vài điều cần yếu trong khi truyền giới Tỳ kheo Ni : Bên Ni tác Bản pháp yết-ma rồi,còn phải đến trong Tăng để cầu thọ Chánh pháp yết-ma, mới viên thành giới thể. Vì sao ? Nguyên vì Phật chế Chánh pháp quan hệ ở nơi Đại Tăng, nên biết rằng, giới pháp của Tỳ-kheo rất tôn quý, hay vì nhân thiên làm ruộng phúc tốt lành. Cho nên giới thể nầy quyết phải từ Đại tăng mà được. Thấy đó biết rằng, giới thể đã chưa thành thì giới tướng làm sao có được ! Thức-Xoa-ma-na khi được tác Bản pháp yết-ma xong, thì gọi là Bản pháp Ni, khi đến giữa Đại Tăng ba phen cầu xin giới pháp, Đại Tăng bạch tứ yết-ma, tức Chánh pháp yết-ma rồi, Giới sư mới tuyên bố: Bây giờ là mấy giờ.. các vị đã đắc giới Tỳ kheo Ni. Và lời giáo giới tiếp theo sẽ nói là : Nầy các vị Tân Tỳ-kheo Ni; mà không nói là : Thức-xoa-ma na, hay Bản pháp Ni hoặc là giới tử nữa.

Trong Yết-ma Yếu Chỉ (HT. Thích Trí Thủ giảng thuật, HT. Thích Đổng Minh, HT. Thích Nguyên Chứng soạn tập), quý Ngài còn nhấn mạnh rất rõ ràng: Cũng nên nhắc lại rằng, sau khi bạch tứ yết-ma là dứt phần Bản bộ yết-ma của

Tỳ-kheo Ni tăng. Các tiết mục khác như: Truyền tám Ba-La-Di, các Pháp sở y và tám Pháp tôn kính, phải do Tăng trong phần Chánh pháp yết-ma làm. Trong                                                              

Bộ Luật Tứ Phần Tỳ-kheo Ni Sao của Tổ Đạo Tuyên trước thuật, HT. Thích Đôn Hậu dịch và giảng cũng dạy y như vậy.           

Lời Phật, ý Tổ còn rõ ràng như vậy, không hiểu vì sao trong các giới đàn gần đây, các vị Giới sư Ni đều làm tất tật hết, rồi cho các giới tử Ni đắp y Tỳ-kheo, bưng bình bát qua bên Đại Tăng để cầu giới. Thật khó hiểu là, vì sao các vị Ni đi cầu giới nầy, họ đã “đắc giới”, đã được trao giới tướng, đã khoát y Tỳ-kheo rồi, mà khi vào giữa Đại Tăng lại tự xưng là: Con, Thức-xoa-ma-na…?

Phải chăng, việc làm nầy cho thấy dấu hiệu: Bát Kỉnh Pháp đang dần dần bị bỏ qua, hoặc chỉ thực hành một cách chiếu lệ!

III – Giới Đàn Trang Nghiêm

Đã có một số người hiểu rằng giới đàn trang nghiêm là được trang hoàng công phu lộng lẫy. Điều đó có thể đúng nhưng chưa đủ. Điều quan trọng hơn là khi tổ chức một Giới đàn để truyền giới, nhất là giới Cụ túc, thì một giới đàn trang nghiêm phải thành tựu trọn đủ bốn yếu tố: Giới thành tựu, Sự thành tựu, Tăng thành tựu và Yết-ma thành tựu.

1)   Giới thành tựu: Trước khi tiến hành nghi thức truyền giới, để khỏi mắ lỗi biệt chúng, khiến yết-ma bất thành, thì nhất định Tăng phải kết giới trường để truyền giới. Khi kết giới trường phải xác định rõ giới hạn, hay nói cách khác là phạm vi của giới trường như thế nào là đúng pháp. Cũng theo Yết Ma Yếu Chỉ: Thông thường, tại mỗi trú xứ của Tăng đều có giới trường trong phạm vi đại giới. Giới trường nầy thường là Chánh điện của già lam. Nhưng việc truyền giới là công việc của Tăng, do Tăng chủ trì, nên cần có sự phân biệt Phật và Tăng ở đây. Tức chỗ ngồi của các giới sư được bố trí như thế nào để có sự cách biệt Phật và Tăng thì Tăng pháp mới thành tựu.  Chính vì điều nầy mà các vị Luật sư bậc Thầy trước đây còn  dùng một bức màn, để khi đảnh lễ Tam Bảo xong, vị Dẫn thỉnh sẽ xướng: Cung thỉnh Giới sư tề nghệ giới trường, thì các vị Giới sư bước lùi lại mấy bước mới thăng tòa và ngay sau đó bức màn sẽ được kéo ngang qua, trước khi giới tử vào đảnh lễ Giới sư, chính là để  có sự cách biệt Phật và Tăng, để Tăng pháp được thành tựu. Thế nhưng, việc kết giới trường ngày nay rất tiếc là không được rạch ròi và thường hay lẫn lộn.

2)   Sự thành tựu : Sự ở đây là các già nạn. nghĩa là các giới tử phải được kiểm tra kỹ lưỡng các chướng nạn làm trở ngại cho việc thọ giới.

3)   Tăng thành tựu: Tăng phải đủ túc số là 10 vị Tỳ-kheo thanh tịnh, minh mẫn, thông hiểu giới luật, phải theo dõi sát các pháp thức yết-ma, ngồi không quá xa nhau đến độ vói tay không tới, không ngủ gục, không nhập định hay lần tràng hạt niệm Phật, không được bỏ ra ngoài trong khi Tăng đang tác pháp yết-ma, cho đến nếu có người có thần thông cũng không được bay lên khỏi mặt đất. Nếu không như thế thì yết-ma bất thành.

4)   Yết ma thành tựu: Thường thì vị Yết-ma sư phải là người thông hiểu giới luật, quán xuyến chúng Tăng, để khi tiến hành tác pháp không vấp phải các lỗi đến nỗi yết-ma bất thành. Yết-ma bất thành chính là tác phạm vậy. Uy lực của pháp yết-ma cao hay thấp là ở vị bỉnh pháp nầy.

Căn bản để giới đàn được trang nghiêm, thành tựu là như vậy. Nhưng  điều khó khăn ở đây là ngày nay các giới đàn tuyển chọn giới tử cốt là ở số lượng. không khảo hạch kỹ càng đúng như danh nghĩa “tuyển người làm Phật”. Giới tử thì yếu kém mà lại quá đông, trong khi các Giới sư tuy cao đức nhưng phần lớn là già yếu lại nhiều bịnh, ngồi lâu rất khó khăn, mệt mỏi; phần nhiều là tiến hành tác pháp từ 4 giờ sáng cho đến trưa, thậm chí quá trưa. Đã có nhiều vị Tôn chứng sư phải bỏ cuộc nửa chừng để đi giải lao, vị thì ngồi yểu xiểu…! Còn thầy Yết-ma thì vì áp lực thời gan nên làm nhanh, nhiều khi hỏi mà không đợi giới tử trả lời, việc quan trọng mà yết ma thì lại vắn tắc, như nói : Yết-ma lần thứ 2 cũng như trên có thành không? Yết-ma lần thứ 3 cũng như trên có thành không? v.v…

Tôi còn nhớ, các vị Luật sư trước đây thường dạy: Trước khi tiến hành tác pháp yết-ma, vị Bỉnh pháp phải đưa mắt nhìn khắp trong chúng để xem thử Tăng có dấu hiệu phi tướng hay không. Như Tăng đang ngồi tác pháp mà có một vị quỳ lên, đứng dậy, đi tới, đi lui, hay có người không phải trong túc số Tăng mà có mặt trong giới trường v. v…thì không tác pháp được.

Đến khi hỏi : Vị Trưởng lão nào chấp thuận, Tăng cho Sa-di….. thì im lặng, Ai không chấp thuận thì hãy nói ra . Đây là yết-ma lần thứ nhất. Khi ấy, vị Yết-ma phải dừng lại trong giây lát, đưa mắt nhìn khắp chúng tăng, ý là để xem thử trong Tăng có vị nào có ý kiến hay không, nếu thấy tất cả đều im lặng, khi ấy mới lấy biểu quyết: Yết-ma có thành không ? Cho đến lấy biểu quyết của Tăng lần thứ hai, rồi lần thứ ba cũng đều như thế. Đây là điểm sắc sảo, sinh động, uy nghiêm, như một vị quan tòa đưa ra phán quyết một cách rất cẩn thận và nghiêm minh. Mỗi một lần hỏi, vị thầy Yết-ma cất lên giọng nói sang sảng, rạch ròi, mạch lạc và dứt khoát; và tiếng đáp “thành” đồng loạt được vang lên từ chúng Tăng, kết thúc là tiếng thủ xích của vị thầy Yết-ma vỗ xuống, tất cả những âm thanh ấy, cảnh tượng ấy, như dội vào trong tâm thức của người giới tử đang chí thành cầu giới, khiến cho vô tác giới thể được sinh khởi trọn đầy. Tiếc thay, cái sinh khí trang nghiêm, sinh động và đầy uy lực ấy giờ đây hiếm thấy. Không phải vì các vị Luật sư bây giờ không biết, không làm được, mà chính là do áp lực thời gian quá lớn; phần vì sức khỏe của quý Ngài không có đủ để ngồi thực hiện một buổi lễ với thời gian dài như vậy. Suy nghĩ đến đây mới thấy băn khoăn rằng,  những người nắm giữ kỷ cương cho Luật học, rồi đây sẽ là một khoảng trống không nhỏ !

                                                     

                                                                                                              Chùa Long An, Tiết Lập Thu năm Ất mùi – 2015

                                                                  Tỳ kheo Thích Hải Tạng

 

Ý nghĩa và Tìm hiểu về tràng hạt trong Phật giáo

image

Tràng hạt khởi nguồn từ Ấn Độ và đã trở thành một vật quan trọng trong đời sống tín ngưỡng, văn hóa của tín đồ các tôn giáo và trong xã hội Ấn Độ cổ. Với Phật giáo, tràng hạt là vật tùy thân giúp cho hành giả dễ dàng chú tâm vào đối tượng trì niệm, là một sợi dây xâu suốt các ý tưởng thành một trật tự, từ đó hành giả có thể đi sâu hơn vào các trạng thái của định để làm phát khởi tuệ giác.

Cũng như chuông, mõ, tràng hạt là một phương tiện trong muôn ngàn phương tiện tu tập của Phật giáo. Trong Phật giáo, mọi hình thức pháp khí hay vật thể đều là những phương tiện. Tuy nhiên, không phải vô cớ mà người ta bày ra. Dĩ nhiên, mỗi một hình thức của một vật thể đều có một ý nghĩa biểu trưng đặc biệt của nó.

Nguồn gốc của tràng hạt

 Không chỉ Phật giáo mới đề cập đến chuỗi hạt và hướng dẫn việc sử dụng chuỗi hạt để đạt được những giá trị trên con đường tu tập. Người ta có thể thấy, pháp môn lần tràng hạt niệm Phật của Phật giáo rất gần gũi với phương pháp lần tràng hạt trong lúc cầu nguyện của Bà la môn giáo, một lối cầu nguyện rất thịnh hành của những vị Bà la môn. Bên cạnh đó, người Ấn giáo theo phái thờ thần Siva cũng dùng một loại hạt gọi là rudrāka để xâu thành tràng hạt. Truyền thuyết kể rằng, có lần vị thần này ngắm nhìn thế gian, thấy chúng sinh sống trong nỗi khổ cực không sao nói hết nên đã đau lòng nhỏ xuống những giọt nước mắt, những giọt nước mắt này mọc thành cây rồi cho ra những hạt đỏ thẫm. Người ta đã lấy những hạt ấy làm thành tràng hạt để cầu nguyện trong sự tưởng nhớ đến tấm lòng từ bi của thần Siva. Hạt đó chính là hạt kim cương mà ngày nay chúng ta vẫn dùng để làm tràng hạt. Trong quan niệm của người Ấn Độ, vô hoạn tử và rudrāka đều là những loại hạt thiêng, có khả năng trừ ma chướng. Điều này có lẽ một phần do dược tính của chúng, như vô hoạn tử, còn có tên là bồ đề tử, là một vị thuốc chủ trị nhiệt, đàm, sát trùng…

Tuy nhiên, trong Kinh điển Phật Giáo, cái khởi nguyên của tràng hạt và lần chuỗi hạt khi niệm Phật, hầu hết đều căn cứ vào sự khai thị của Đức Phật đối với Vua Ba Lưu Ly đã được ghi chép lại trong Kinh Mộc Hoạn Tử. Kinh Mộc Hoạn Tử, chép rằng: Một thời Đức Phật cùng giáo đoàn của ngài du hóa trong núi Kỳ Xà Quật (Grdhrakùta), nước La Duệ Kỳ (Ràjagrha) quốc vương trong thời nạn ấy tên là Ba Lưu Ly, sai sứ giả đến chốn Phật để xin Thế Tôn đặc biệt rủ lòng thương xót, cho pháp yếu để có thể tu hành được dễ dàng và trong đời mai sau xa lìa được mọi khổ não. Đức Phật bảo sứ giả về thưa với nhà vua rằng: nếu nhà vua muốn diệt được phiền não chướng, báo chướng nên xâu một chuỗi tràng 108 hạt bằng hạt cây tra (mộc hoạn tử) và thường đem theo mình; khi đi, khi ngồi, khi nằm thường nên chí tâm, không phân tán ý, xưng danh hiệu: Phật, Pháp, Tăng mỗi lần, lần qua một hạt cây tra. Cứ như thế, lần lượt qua hạt này đến hạt khác, như: mười hạt, hai mươi hạt, trăm hạt, nghìn hạt, cho đến trăm nghìn vạn hạt. Nếu lần được đủ hai mươi vạn lượt, mà thân tâm không tán loạn, không có những siểm khúc, thời khi xả thân này được sinh lên cõi Diệm Thiên thứ ba. Lên đấy, y, thực tự nhiên, thường an lạc hạnh. Nếu lại lần đủ được một trăm vạn lượt, sẽ dứt hẳn được một trăm tám kết nghiệp, mới gọi là vị chứng được quả Tu-Đà-Hoàn (ngược dòng sinh tử), hướng đến đạo Niết bàn, dứt hẳn cội gốc phiền não và chức được quả vô thượng. Tràng hạt trong Phật giáo ra đời từ đấy. Các tăng sỹ thường mang theo bên mình tràng hạt như là một bảo bối, một pháp khí quan trọng để hỗ trợ họ trên con đường tu học Phật pháp.

Như vậy, có thể thấy, dù trong truyền thống văn hóa cổ xưa của Ấn Độ và trong các nền văn minh khác của nhân loại, chuỗi hạt đã có từ lâu và gắn với mỗi cộng đồng xã hội nó có một ý nghĩa biểu trưng hay giá trị thẩm mỹ khác nhau. Nhưng với Phật giáo, tràng hạt được đề cập với vai trò của pháp phương tiện, là pháp khí, là công cụ để hỗ trợ việc tu hành đạt giác ngộ.

Số lượng của chuỗi hạt

Theo Kinh Mộc Hoạn Tử nêu ở trên, tràng hạt của Phật giáo gồm có 108 hạt, con số này cũng giống với các giáo phái khác ở Ấn Độ. Tuy nhiên, về sau, để tiện lợi cho các nghi thức hành lễ, tràng hạt được xâu bởi chuỗi hạt với những số lượng ít hơn, như 54, 27 hạt hoặc 36, 18 hạt. Con số 108 này tượng trưng cho 108 phiền não gồm 88 kiến hoặc, 10 tư hoặc và 10 triền. Ngoài ra, con số 108 còn được giải thích theo nhiều cách khác nữa. Người ta nhận thấy rằng số hạt thường là tương đương với số lượng của đối tượng được niệm, trong niệm danh hiệu Phật thì có 108 danh hiệu, trong Ấn giáo thì có 108 bộ Áo nghĩa thư. 108 = 6x3x2x3, đó là 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp) x 3 thời (quá khứ, hiện tại và vị lại) x 2 trạng thái của tâm (nhiễm và tịnh) x 3 trạng thái của thọ (ưa, không ưa và trung lập). 108 còn là con số 11 x 22 x 33 = 1 x 4 x 27. Đây có lẽ là những quan niệm liên quan đến vấn đề số học của người Ấn Độ xưa. Trong hình ngôi sao năm cánh, góc bù được tạo nên bởi 2 cạnh cắt nhau là 1080. Người ta nói rằng ở Ấn Độ có 108 điệu múa. Trong thân thể chúng ta có 108 luân xa. Các nhà chiêm tinh cho rằng đường kính mặt trời lớn bằng 108 lần đường kính trái đất. Trong con số 108, số 1 biểu trưng cho sự hợp nhất, tức là nhất; số 8 là vô cùng, tức là dị; số 0 là trung gian, là trung đạo với nghĩa không, tánh không. Tựu trung, con số 108 được giải thích dưới nhiều góc độ khác nhau, và rõ ràng nó mang ý nghĩa tượng trưng rất quan trọng trong quan niệm người Ấn Độ. Ở chừng mực nào đó, có thể nói rằng con số 108 này cũng kỳ diệu như chỉ số PHI (φ) 1.618 trong truyền thống Hi Lạp.

Theo Kinh Giảo Lượng Sổ Châu Công Đức, và theo Kinh Kim Cang Đảnh Du Già Niệm Châu có sự ghi chép bất đồng, tràng hạt có các loại như sau: - Căn cứ Kinh Mộc Hoạn Tử dạy làm chuỗi 108 hạt. - Kinh Đà Ra Ni Tập quyển 2 phẩm Tác Châu Pháp Tướng, thì nêu ra có 4 loại chuỗi: 108 hạt, 54 hạt, 42 hạt, 21 hạt. - Kinh Sổ Châu Công Đức, cũng nêu ra 4 loại chuỗi, tức là loại 108 hạt, loại 54 hạt, loại 27 hạt, và loại 14 hạt. - Kinh Kim Cang Đảnh Du Già Niệm Châu thì lấy 1.080 hạt làm chuỗi bậc thượng, xâu 108 hạt làm chuỗi tối thắng, xâu 54 hạt làm chuỗi bậc trung, xâu 27 hạt làm chuỗi bậc hạ. - Phẩm Sổ Châu Nghi Tắc trong Kinh Văn Thù Nghi Quỹ bảo rằng: Chuỗi bậc thượng là 108 hạt, chuỗi bậc trung là 54 hạt, chuỗi bậc hạ là 27 hạt, chuỗi tối thượng là 1.080 hạt. Trong những tràng hạt với số lượng hạt như trên thì xâu chuỗi 108 hạt là phổ biến hơn hết.

Trong tràng hạt có một hạt gọi là hạt Sumeru hay Meru, chúng ta thường gọi là hạt Tu di hoặc hạt Di đà, đó là hạt thứ 109, là chỗ giáp nối của vòng tròn. Theo nghi thức, khi lần tràng, không được vượt qua hạt này, lần đến hạt này thì lần ngược trở lại, như trong kinh Kim cương đỉnh du già niệm châu có câu: “Hạt giữa tiêu biểu Phật Di đà, chớ lần qua, phạm tội việt pháp”. Tuy nhiên, trong việc xâu chuỗi hạt, tùy cách xâu mà có thể có hoặc không có hạt thứ 109 này.

Ý nghĩa của tràng hạt

Căn cứ vào những pháp số tổng thành mà nó biểu trưng theo quan niệm của phật giáo, việc sử dụng tràng hạt có số hạt khác nhau, thì ý nghĩa biểu trưng của nó cũng có những khác biệt:

- Chuỗi 108 hạt là biểu thị cho cầu chứng 108 pháp Tam Muội mà đoạn trừ 108 phiền não.

- Chuỗi 54 hạt là biểu thị cho 54 cấp vị quá trình tu hành của Bồ Tát, tức là Thập Tín, Thập Trú, Thập Hạnh. Thập Hồi Hướng, Thập Địa và Tứ Thiện Căn Nhân Địa.

- Chuỗi 42 hạt là biểu thị cho 42 cấp vị quá trình tu hành của Bồ Tát, tức là Thập Trú, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa và Đẳng Giác, Diệu Giác.

- Chuỗi 27 hạt là biểu thị cho 27 cấp vị của Tiểu Thừa tu hành Tứ Hướng Quả, tức là 18 bậc Hữu Học của Tứ Hướng Tam Quả trước, với 9 bậc Vô Học của Đệ Tứ Quả A La Hán.

- Chuỗi 21 hạt là biểu thị cho 21 vị, tức là Thập Địa, Thập Ba La Mật và quả vị Phật.

- Chuỗi 14 hạt là biểu thị cho 14 Pháp Vô Úy của Bồ Tát Quán Thế Âm.

- Chuỗi 1.080 hạt là biểu thị cho 10 cảnh giới, mỗi cảnh giới đều có 108, cho nên cộng thành 1.080.

Ý nghĩa của chuỗi 36 hạt và 18 hạt có nhiều người cho là không biểu trưng cho pháp số nào trong Phật giáo, và cho rằng nó tương đồng với chuỗi 108 hạt. Theo đó, để tiện cho sự mang đeo, bèn chia chuỗi 108 hạt ra thành 3 chuỗi, mỗi chuỗi có 36 hạt, hoặc chia chuỗi 108 hạt ra làm 6 xâu, mỗi xâu có 18 hạt, mà không phải có thâm nghĩa nào cả.

Tuy vậy, chúng ta cần biết rằng, sự khác biệt của số hạt với những ý nghĩa biểu trưng khác nhau trên đây, là do các vị Bồ tát, hiền thánh tăng, sau khi đức Phật nhập diệt, đã tùy duyên giao phó làm phương tiện giáo hóa, mà không phải bắt nguồn từ văn của Kinh điển gốc đã nêu. Nghĩa là số lượng các hạt trên tràng hạt là không cố định và bắt buộc.

Công dụng của tràng hạt

 

 

Tràng hạt là một vật dụng phổ biến trong nhiều nền văn hóa trên thế giới. Nó được dùng như một thứ trang sức hoặc như một pháp khí tùy theo đối tượng sử dụng. Trong tôn giáo, tràng hạt được dùng để liên kết và thiết lập trật tự cho các lời cầu nguyện, các bài kinh, các kệ tán, các danh hiệu hoặc những thần chú trong khi hành trì.

Với Phật giáo, tràng hạt là một pháp khí quen thuộc, việc sử dụng tràng hạt dường như đã trở thành nét đặc thù của Tịnh độ tông. Theo lịch sử truyền thừa của Tịnh độ tông, người chế ra tràng hạt để niệm danh hiệu Phật chính là ngài Đạo Xước (562-645), người được tôn là tổ thứ 2 của Tịnh độ tông Trung Quốc. Còn với Phật giáo Nam tông, từ lâu tràng hạt cũng đã dần dần trở thành một vật tùy thân ngoài 8 vật (3 y, kim chỉ, bình bát, dây lưng, dao cạo và túi lọc nước) đã được Phật chế định.

Không phải ai niệm Phật cũng lần tràng hạt. Điều này, còn tùy theo căn tính và thói quen của mỗi người. Tuy nhiên, đối với những tín đồ, Phật tử tu theo Tịnh Độ tông, thì nên lần chuỗi để tiện bề đếm số đúng như lời mình đã phát nguyện.  Bởi vì đối với những người sơ cơ, nhiều nghiệp chướng, tâm chưa thuần nhất, còn đầy vọng tưởng tạp loạn, thì việc dùng tràng hạt khi niệm Phật để dễ định tâm hơn. Hơn nữa, người tu tịnh nghiệp, thì tam nghiệp (thân, khẩu, ý) cần phải giữ thanh tịnh. Tay lần chuỗi thuộc về thân nghiệp, miệng niệm Phật thuộc về khẩu nghiệp, ý chuyên chú vào câu hiệu Phật không rời ra, thuộc về ý nghiệp. Kinh Phật dậy: “Tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương”, nghĩa là ba nghiệp đều thanh tịnh thì cùng Phật vãng sinh về Tây phương cực lạc. Như vậy, tay lần chuỗi cũng là mục đích để ghi nhớ mỗi một hạt chuỗi là niệm một câu hiệu Phật, đồng thời cũng là cách ghi nhớ số, để không nhầm lẫn vậy.

Công dụng của chuỗi hạt chỉ là một phương tiện như muôn ngàn phương tiện khác. Người ta dùng nó để niệm Phật. Nhờ lần chuỗi ghi số câu mà tâm ít tán loạn hơn. Tuy nhiên, điểm căn bản để diệt trừ phiền não, chính là ở nơi cái tâm. Người niệm Phật, tay lần chuỗi mà tâm lăng xăng, tán loạn, luôn nghĩ tà vạy, thì dù miệng có niệm Phật, tay lần tràng hạt, cũng không thể nào có kết quả định tâm được./.

Nguồn: http://www.lieuquanhue.vn (Yến Sơn)

 

Ý nghĩa Pháp khí và Pháp phục trong Phật giáo

Pháp khí là những dụng cụ dùng để thực hành các loại pháp sự, để dâng cúng lên chư Phật hoặc các đạo tràng nghiêm trang, hoặc làm dụng cụ trợ ích trong tu tập. Pháp phục là những y cụ cần thiết cho tu sĩ
Nghi Lễ trong đạo Phật có rất nhiều pháp khí như: Chuông, trống, bảng, khánh, tràng hạt, bình bát, cà sa, tích trượng v.v… mỗi thứ đều có một công dụng và ý nghĩa khác nhau.

I/ Những pháp khí thông thường:

1/ CHUÔNG:

Xuất xứ: Theo như trong kinh Tăng nhất a hàm có chép: Mỗi khi nghe tiếng chuông ngân lên, thì các hình phạt trong các ác đạo tạm thời dừng nghỉ, chúng sanh nào đang chịu những hình phạt ấy cũng được tạm thời an vui. Nghe được tiếng chuông là phiền não nhẹ vơi đi. 

Theo kinh Tăng A Hàm, quyển 24 Ðức Phật bảo ngài A Nan: “hãy đánh chuông lên để tập họp chúng, nhân ngày rằm tháng 7”. Vậy chuông là một pháp khí để tập họp Tăng Chúng và thức tỉnh Chúng Sinh đã có từ thời Phật tại thế.
 

 
Trong chuyện Cảm thông cũng có chép:

.. ."Ngày xưa khi đức Phật Câu lưu Tôn ở tại viện Tu đa La xứ Càng trúc đã có tạo một quả chuông bằng đá xanh, thường vào lúc mặt trời vừa mọc khi tiếng chuông ấy vừa ngân lên thì trong ánh mặt trời ấy có các vị Hóa Phật hiện ra, diễn nói 12 bộ kinh, làm cho người nghe được chứng thánh quả không kể xiết"

Trong bộ kinh Kim cang Chí cũng có chép: "Vua Hiếu cao Hoàng đế đời nhà Đường nhơn vì nghe lời sàm tấu của Tống tề Khưu mà giết lầm kẻ tôi trung tên là Hòa Châu, nên khi chết đọa vào địa ngục. Một hôm có một người bị bạo tử (chết thình lình) thần hồn đi lạc vào địa ngục ấy, thấy một tội nhân đang bị gông cùm, bị kềm kẹp đánh đập rất là khổ sở, hỏi ra thì mới biết là vua Hiếu Cao nhà Đường. Vua gọi vị bạo tự ấy vào mà nói rằng: Nhờ ngươi trở lại dương thế nói giúp với hậu chúa rằng: Hãy vì ta mà đúc chuông cúng dường và làm các việc từ thiện. Khi trở lại dương thế, người bạo tử liền đến yết kiến hậu chúa để chuyển lời nhắn nhủ của vua Hiếu Cao. Nghe vậy, hậu chúa liền thân hành đến chùa Thanh Lương phát nguyện đúc một quả chuông để cúng dường và cầu siêu cho Hiếu Cao Hoàng đế. (Tích nầy trong truyện Bách Trượng thanh quy, trang 68 và 87). Đồng thời trong kinh Lăng nghiêm, đức Phật cũng bảo ngài La hầu La đánh chuông để giảng cái lý cho Tôn giả A Nan nghe. Vì thế chúng ta có thể hiểu rằng chuông đã có từ thời đức Phật còn tại thế.

Ở Trung Quốc, chuông đã được xử dụng tại các tự viện từ đời nhà Chu (557 trước tây lịch), nhà Tùy (609) “Tục Cao Tăng Truyện: ngài Trí Hưng nhận lo việc chuông tại chùa Thiền Ðịnh ở kinh đô Trường An”. Thế kỷ thứ VI, Hòa Thượng Chí Công khởi xướng, vua Lương Vũ Ðế thực hiện “Hồng chung” cầu nguyện cho các thần thức bị đọa trong chốn U Minh (địa ngục).

Phật Giáo Việt Nam từ trước đến nay thường xử dụng 3 loại chuông:

A. Hồng Chung: Cũng còn gọi là Phạn chung, Hoa chung, Cự chung, Ðại chung.

Chuông này được đúc bằng đồng xanh pha ít sắt. Thông thường chuông cao khoảng 1.50m, đường kính khoảng 6 tấc. Loại này treo trong lầu chuông, mục đích thỉnh chuông là để chiêu tập đại chúng hoặc báo thời sớm tối. Người Việt Nam thường dùng từ “Ðại hồng chung” chỉ cho loại chuông thật lớn, gần như không còn có quy định, có nơi được tính theo tiếng ngân dài của chuông. Như ở Huế: đánh chuông lên, dùng hai tay dăng ra và gập lại vào ngực gọi là một “sải”, làm như vậy cho đến khi tiếng ngân của chuông chấm dứt, được bao nhiêu lần là chuông lớn bấy nhiêu “sải”.
 

 
Ðại hồng chung còn được dùng:

1- Dùng công phu khuya sớm. Người thỉnh chung: tay đánh chuông, miệng đọc bài kệ:

Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới
Thiết vi u ám tất giai văn.
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông,
Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.

(Hòa thượng Thích Trí Quang dịch: Nguyện tiếng chuông này khắp pháp giới, Thiết vi u ám cũng nghe được. Căn cảnh thanh tịnh chứng viên thông, Hết thảy chúng sanh thành chánh giác).


Đồng thời, nguyện cho tất cả loài hữu tình lắng lòng nghe tiếng chuông, rồi duyên theo tiếng chuông ấy cũng bằng câu kệ:

Văn chung thanh phiền não khinh,
Trí huệ trưởng bồ đề sanh,
Ly dịa ngục xuất hỏa khanh,
Nguyện thành Phật độ chúng sanh.
Án, già ra đế da tóa ha (3 lần)


Nghĩa là:

Nghe được tiếng chuông, phiền não liền nhẹ,
Trí huệ thêm lớn, sanh tâm bồ đề
Ra khỏi địa ngục, vượt thoát hầm lửa,
Nguyện được thành Phật, để độ chúng sanh.
Án, già ra đế da tóa ha (3 lần) 


Tiếng chuông sớm hay tiếng chuông chiều không những chỉ để cảnh tĩnh cõi dương mà còn hướng dẫn cho cõi âm nữa. Vì thế mà thường gọi là chuông U minh.

2. chuông trống Bát Nhã (đánh theo bài kệ ở sau).

3. và trong các đại trai đàn chẩn tế, thường gọi là Chuông U Minh.

B. Chuông báo chúng:

Cũng còn gọi là Hoán chung, Tiểu chung, Bán chung, kích thước bằng ½, hình dáng giống như Hồng Chung, thường để một góc trong chánh điện, được treo trên giá và di chuyển dễ dàng, Cũng gọi là chuông Tăng đường, tức là chuông nhỏ, chỉ một người xách lên được. Hình thái cũng như chuông U minh, được treo ở trai đường, dùng để báo tin trong lúc họp chư Tăng biết vào những lúc: Nhóm chúng, thọ trai, giờ chấp tác, giờ bái sám trong các tự viện, báo hiệu cho quý vị Tăng Chúng biết sắp đến giờ hành lễ và xử dụng trong các buổi pháp hội..Về sau kích thước cũng tùy nghi không hạn định. Về việc thỉnh chung cũng tùy theo địa phương và tông phái, nhưng chung quy cũng biểu thị sự thanh lọc căn trần, vơi đi phiền não, hướng về giải thoát.
 

 
C.  Chuông gia trì:

Là loại chuông xử dụng chung với mõ để tụng kinh, hành lễ hằng ngày trước bàn Phật. Hình dáng như ½ quả cầu hay một cái tô để ngửa. Việc thỉnh chung: (xem bài khai chuông mõ).

Loại chuông nầy dùng để đánh lên trong lúc tụng kinh bái sám. Tiếng chuông gia trì được xử dụng trước khi tụng kinh hay báo hiệu sắp hết đoạn kinh đang tụng hay câu niệm Phật. Cũng thường đánh lên khi lạy Phật một mình. Còn khi đông người thì để báo hiệu cùng lạy cho nhịp nhàng. Chuông gia trì có đủ ba loại lớn, vừa và nhỏ. Chuông vừa và nhỏ thì thường thường Phật tử tại gia dùng nhiều hơn và cũng dùng như chư Tăng.
 

 
2/ TRỐNG:

Xuất xứ: Trong kinh Kim Quang Minh có chép: Một hôm người Tín trưởng Bồ tát nằm mộng thấy một cái trống bằng vàng. Trống ấy có chiếu ra hào quang sáng rực như mặt trời. Trong hào quang có rất nhiều đức Phật đang ngồi trên tòa sen lưu ly đặt dưới những gốc cây quý. Chung quanh các đức Phật đều có trăm nghìn ức vị đại đệ tử đang ngồi nghe pháp. Lúc ấy có một đạo sĩ Bà la môn đang cầm dùi trống đánh mạnh vào chiếc trống vàng, tiếng trống vang rền nghe như lời kinh sám hối. Khi đã tỉnh mộng, ngài Tín trưởng Bồ tát liền đem những điều ấy mà mình đã thấy nghe trình lên đức Thế tôn.". 

Trong kinh Lăng nghiêm cũng có chép:

Đức Phật dạy: 

- Này A Nan, ngươi hãy nghe tiếng trống mỗi khi dọn cơm xong, nghe tiếng chuông mỗi khi nhóm họp đại chúng trong tinh xá Kỳ đà hoàn nầy. Tiếng trống hoặc tiếng chuông ấy trước sau nối tiếp nhau. Vậy, theo ý ông, mỗi khi ông nghe được các thứ tiếng ấy là vì nó tự bay đến bên tai ông, hay tai ông đến nơi chỗ phát tiếng ấy?". (Đây là lúc đức Phật chỉ cái Tâm cho ngài A Nan)
 

 
Trống là một trong những loại nhạc khí, thường làm bằng đá, cây, đồng .v.v . xưa tại Ấn độ, dùng để báo thời gian, cảnh báo. Khi Phật còn tại thế, dùng nó để tập họp Tăng chúng, Bồ tát nghe pháp . . .Ngũ Phần Luật có ghi “Chư Tỳ Kheo Bồ Tát, chúng bất thời tập. Phật ngôn: nhược đả kiền chùy, nhược đả cổ . . .”Trung Quốc ngày xưa dùng nó trong các lễ lộc, vũ hội. Loại hình có lớn, nhỏ, treo hoặc để trên giá. Lớn gọi là “trống tẩu”, nhỏ gọi là “trống ứng”, treo để đánh gọi là “trống treo”.Từ đời nhà Ðường, theo thanh quy thiền môn, trống chỉ là loại pháp khí làm hiệu lệnh để báo thời sớm tối. Về sau Phật Giáo Trung Quốc phối hợp nhịp điệu, âm thanh của trống hoà cùng lời tán tụng phổ thành nhạc điệu gọi là “kỹ nhạc cúng dường, trang nghiêm đạo tràng”. Thời Ðường Hiến Tông năm 820, chuông trống đã được xử dụng rộng rãi trong nghi lễ Phật Giáo (Căn cứ theo bản dịch bài Thiền sư Ðại điên và Hàn Dũ). Việt Nam, trong các chùa thuộc tông phái Ðại Thừa cũng xử dụng trống vào nghi lễ gần giống như Trung Quốc, nhưng âm hưởng, sắc thái thuần túy dân tộc Việt Nam. Có nhiều loại trống, nghi lễ Phật Giáo thường xử dụng hai loại phổ thông:

A. Trống lớn (Ðại cổ):

Dùng để đánh vào những dịp lễ lớn. Trống lớn thường gọi là trống Bát nhã. Đánh trống lớn có bài kệ của nó. Tiếng trống tượng trưng cho chánh pháp. Chúng sanh mỗi khi nghe tiếng trống chánh pháp ấy thì tội chướng được tiêu trừ và cũng nhờ đó mà được giải thoát vào cảnh giới an lạc. Vì khi nghe được tiếng trống Bát nhã, tùy loại chúng sanh mà thâm nhập tiếng trống và có thể nương vào tiếng trống mà cảm nhận được dung nhan của đức Phật. Tiếng trống Bát nhã đánh lên để cung thỉnh Phật đăng bảo tọa.
 

 
1- Ðánh chuông trống Bát Nhã:

a. Khai: Nhập cùng với chung, bảng (nếu có); Cách đánh trong CD khai kinh Huế:

- 3 hồi chuông gia trì (cgt). - Mộc bảng(M), trống (T) - M T - M T- MTMT -  MT - M (7M và 6 )
- cgt, M, T - HồngCh, cgt, cgt, M, T - HồngCh, cgt, M, T - xxxx (gõ vành), T- xxxx (gõ vành), T  ttttttttt (trống luôn). Hoặc đánh - nhập hai tiếng (nhị đế dung thông).
-3 tiếng tiếp (mỗi lần một tiếng): Quy y Tam Bảo, dứt tam độc (tham, sân, si) -7 tiếng. (Thường gọi chung là một hồi luôn).

b. Bài kệ: Bát Nhã hội (3 lần)

Thỉnh Phật thượng đường
Ðại chúng đồng văn
Bát Nhã âm
Phổ nguyện pháp giới
Chúng hữu tình
Nhập bát Nhã
Ba La Mật Môn
(5 lần, 10 lần)


Bài kệ được Ðệ nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết và quí Hòa Thượng đồng thời xác tín, chứng minh.

Nghĩa là:

Hội Bát nhã,
Thỉnh Phật lên (giảng) đường,
Đại chúng đều (được) nghe:
Âm Bát nhã,
Vang khắp pháp giới,
Chúng hữu tình (vân vân),
(Đều nhập) lý Bát nhã,
Chứng nhập (pháp môn) Ba la mật.


c- Ðánh dứt 4 tiếng (chứng nhập Tứ Ðế): xxxx C - T    xxxx C - TT    xxxx C - T    C
2- Ðánh trống thỉnh Phật, Tổ, Thần (Ðả cổ thông tam giới…)
3- Ðánh trống rước Phật, Xá Lợi, Thần sắc.

B. Trống nhỏ (trống kinh): Dùng để đánh mỗi khi tụng kinh nên cũng được gọi là trống kinh (tiếng bình dân thường gọi là trống cơm). Ngoài việc dùng đánh để tụng kinh hằng ngày vào hai thời công phu khuya và chiều trong các tự viện, trống tiểu còn dùng để hòa âm trong cổ nhạc Phật giáo và cổ nhạc Việt nam. Trống tiểu thì khó đánh hơn trống lớn. Bài học để xử dụng cho trống tiểu rất nhiều, phức tạp và khó học. Có rất nhiều thể điệu khác nhau như là thể điệu thiền khi tụng kinh, thể điệu ai khi dùng vào đám táng, chẩn tế cô hồn, ... Nếu không học thì không thể xử dụng…;mới trông qua giống cái trống Cơm, nhưng hơi khác : tiếng dòn và trong hơn, cái đùi đánh trống gọi là roi trống
 

 
3/ MÕ:

Xuất xứ: Trong bộ sách Sắc tu Thanh quy Pháp khí về chương mộc ngư có chép rằng: 

Lời Tương truyền: Loài cá luôn thức không bao giờ ngủ và rất hoạt động. Vì vậy khi tạo loại pháp khí nầy thì mõ được chạm trổ theo hình con cá với thâm ý là muốn thức tĩnh con người cũng như chúng hữu tình đang còn trong mê muội, u trầm.

 
Trong sách Chính ngôn đời nhà Đường thì chép: Có một người bạch y đến hỏi một vị Trưởng lão ở Thiên trúc rằng: Tại sao các Tăng xá đều có treo mõ?
Vị trưởng lão trả lời:

- Vì để cảnh tĩnh chúng Tăng tại Tăng xá hay tự viện ấy.

Người bạch y hỏi tiếp:

Nhưng tại sao lại tạc hình con cá?

Vị Trưởng lão không trả lời được. Người bạch y lại hỏi ngài Hộ Biện và được ngài giải thích rằng:

- Loài cá là loài không bao giờ nhắm mắt và thích hoạt động. Cũng vì muốn cho người tu hành ngày đêm quên ngủ, gắng công tu tập, mau chứng đạo quả nên treo và đánh mõ và cái mõ được tạc hình con cá vậy.
 
Mõ có hai loại: Mõ có hình bầu dục và mõ có hình điếu. Tất cả đều được tạc theo hình con cá.

- Mõ hình hình bầu dục để tụng kinh, điều khiển buổi lễ khi đông người tụng được nhịp nhàng.

- Mõ hình điếu thì treo ở nhà trù dùng để báo hiệu khi thọ trai hay chấp tác. Ngoài ra, cũng có một loại mõ rất nhỏ dùng để chư Tăng đi kinh hành gọi là nhiễu Phật. Tiếng mõ vừa giữa cho buổi lễ được trang nghiêm lại vừa giữ cho tâm hồn khỏi tán loạn trong khi hành lễ. Bởi thế, người đánh mõ gọi là Duyệt chúng, tên nầy gọi là làm đẹp lòng mọi người trong lúc cùng tụng kinh với nhau. Đánh mõ phải học hẳn hoi, đúng điệu và đúng cú pháp của nó.

Theo sách Tam Tài Ðô Hội của Vương Tích đời Ðường có đoạn: “Mõ là loại mà dùng cây khắc thành hình con cá, rỗng bên trong, gõ nó sẽ phát ra tiếng, các hàng Phật tử khi tán tụng đều dùng đến nó”. Mõ có hai loại:

A. Loại dài hình con cá dựng đứng hoặc treo ở các nhà kho, dùng để báo hiệu giờ ăn cơm, tập họp, phổ thỉnh Tăng chúng tại các chùa ngày xưa (sách Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy, chương pháp khí).
 

Loại mõ dài còn thấy xử dụng tại một số đình làng ở miền Trung, Việt Nam để triệu tập dân làng khi cần. (Hiện thấy tại đình làng Dương Nổ, sau năm 1975).

B. Loại hình tròn như vảy cá, trên mõ có khắc chạm hình con cá; dùng để gõ nhịp lúc tụng kinh. Loại này được nói là xuất hiện vào triều đại nhà Minh (Trung Hoa).

Theo sách Tham thiền Ngũ Ðài Sơn ký (quyển 3) Tống Thần Tông, Hy Ninh năm thứ 5 ngày 8 tháng 8 ghi: Trong chùa Thanh Thái có thờ tượng Ngài Phó Ðại Sĩ. Mỗi khi ngài muốn gặp các vị tu hạnh Ðầu Ðà nơi cao sơn chỉ gõ mõ, chư vị sau khi nghe mõ ấy liền đến. Sau đó các tự viện dưới chân núi đều dùng mõ để tập họp đại chúng.

 
Sách Tăng Tu Giáo Uyển Thanh Quy (quyển 3) phần pháp khí, có ghi lại truyền thuyết rằng: “có một vị Tăng do phản thầy, huỷ pháp nên bị đọa làm thần cá, trên lưng con cá ấy lại mọc mấy cái cây, mỗi khi sóng to gió lớn, khiến thân ra máu, thật thống khổ vô cùng. Một lần nọ, vị Thầy Bổn Sư qua biển, nhân đó nó muốn đòi nợ, liền nói rằng: Thầy không dạy bảo nó, nên nó mới phải bị đọa làm thần cá như thế này, do đó nay nó muốn báo oán. Thế rồi, vị thầy ấy bảo cá nên ăn năn sám hối, Thầy ấy cũng vì con cá mà cầu siêu, chú nguyện và ngay đêm đó nó được hóa kiếp. Vị Thầy Bổn Sư liền đem cây ấy đẽo thành hình con cá và treo lên để cảnh tỉnh đại chúng”. Ðó là một lẽ mõ mang hình cá.  

Trong Sắc Tu Thanh Quy, chương Pháp Khí nói: “tương truyền cá là loại thức tỉnh  suốt ngày đêm, nên khắc hình con cá mà gõ để thức tỉnh những kẻ hôn trầm lười nhác”.

Sách Gia Ngôn nói rằng: “có một người taị gia hỏi một vị Trưởng Lão Thiên Trúc rằng: “Tăng xá đều treo mõ cá là nghĩa làm sao?”. Ðáp: “dùng để cảnh tỉnh đại chúng”. Người tại gia đó lại hỏi: “nhưng vì sao lại cứ phải khắc thành hình con cá?”. Vị Trưởng Lão đó không giải đáp được bèn đến hỏi Sư Ngộ Biện. Sư đáp: “cá đêm ngày không hề nhắm mắt, đó cũng là muốn người tu hành quên ngủ để đến với đạo”.

Ý Nghĩa Về Chuông Mõ:
 
a. Trước đánh ba tiếng (tiên khởi tam),
b. Kế nhịp bảy (thứ lôi thất),
c. Tiếp đánh ba (tịnh đả tam),
d. Giữa đánh mưới (trung đả thập)
e. Sau cùng dứt bốn (hậu diệt tư).

- Trước đánh ba tiếng: Nghĩa là chúng sanh do ba nghiệp thân khẩu ý tạo tác mọi điều ác, sau sẽ đọa vào trong ba đường dữ: địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Nhưng cũng có nghĩa là cố trừ ba độc: tham, sân và si để vượt lên ba giải thoát để chứng đắc ba đức: Pháp thân, Bát nhã thân và Giải thoát thân. (Phần nầy giảng lượt đi nên không mấy ai biết đến. Chúng tôi viết ra đây cho đu, vì la tài liệu tham khảo).

- Kế tiếp nhịp bảy tiếng: Đây là tiêu biểu cho thất chi tội. Về thân thì có ba: Sát, đạo và dâm. Về khẩu thì có bốn: Vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt và ác khẩu. Sau khi đã đoạn trừ được bảy tội nêu trên liền chứng được thất giác chi: Trạch pháp, tinh tấn, hỷ, trừ, xả, định và niệm.

- Tiếp đánh ba tiếng: Là phát nguyện tu tam học tức là giới, định và huệ để quyết chứng cho được ba thừa: Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát.

- Giữa đánh mười tiếng: Đó là tiêu trừ mời điều ác gồm thất chi tội cọng thêm của ý có ba là mười. Từ đó, chứng nhập mười thân gồm: Bồ đề thân, nguyện thân, hóa thân, lực thân, trang nghiêm thân, oai thệ thân, ý sanh thân, phước thân, pháp thân và trí huệ thân. (Phần nầy, sau nầy giản lượt đi, không mấy ai dùng đến và cũng không mấy ai biết để ý đến. Chúng tôi viết ra đây là vì tài liệu nghiên cứu, phải làm cho đầy đủ mà thôi).

- Sau cùng dứt bốn: Tức là để tiêu trừ bốn tướng: Sanh, lão, bệnh và tử để chuyển thành bốn trí:

- Thành sở tác trí: Tiền ngũ thức (nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt và thân),

- Diệu quan sát trí: Đệ lục ý thức,

- Bình đẳng tánh trí: Đệ thất Mạc na thức,

- Đại viên cảnh trí: Đệ bát A lại da thức.

4. Bảng và Khánh:

Xuất xứ: Bảng và Khánh là một trong những thứ pháp khí của nhà Phật. Hai loại nầy được thường dùng trong ngày ở các chùa, viện. Từ xưa đến nay đều dùng làm hiệu lệnh như báo tin giờ học, tụng kinh, thọ trai, chấp tác của chư Tăng.
 

 
Trong sách Tượng khí Tiêu, quyển 18 có chép rằng: Ngài Vân Chương nói:

-  Hình của Bảng giống như đám mây, nên người ta cũng gọi là Vân bảng. Còn theo lão Hòa thượng Tục Sư có thuật chuyện vua Tống thái Tổ cho rằng: Tiếng trống hay làm giật mình người ngủ, nên thay vì dùng trống, Tống thái Tổ chế ra thiết khánh. Loại khánh nầy cũng được gọi là Vân bảng. Vì hình của nó cũng giống như hình cánh dơi trên bề lưng lẫn bề mặt có đám mây qua lại, loại nầy có nơi gọi là chinh (chiêng).
 

 
Cách chế tác và xử dụng: Theo ngài Vân Chương trong sách Tượng khí tiêu thì hình của Bảng giống như đám mây và làm bằng đồng, thiết. Nhưng nay ở các tòng lâm, tự viện thì dùng bằng gỗ và được chạm trổ theo hình bán kính bát giác. Bề cao khoảng chừng bốn tấc tây, rộng chừng hai tấc tây. Bảng cũng được thay thế cho trống trong những trường hợp nói trên, đồng thời cũng dùng để phân phát đồ cúng dường hay phân xử việc của chúng Tăng... Bảng và Khánh trong luật được gọi là Kiền Chùy Thành. Cách dùng không khác nhau, chỉ khác nhau về hình tướng và vật liệu chế tác. Ngày xưa thiết và đồng còn khan hiếm nên chư tổ đã dùng bằng đá cẩm thạch. Tiếng kêu cũng tương tự như khánh đồng, nhưng nhỏ tiếng hơn. Ngày nay các tòng lâm lại ít dùng khánh mà chỉ dùng bảng nhiều hơn.
 

 
5/ LINH:

Linh là một pháp khí làm bằng đồng  thau hay đồng đỏ, dùng để gõ hoặc rung lên khi tụng kinh trước Phật đài. Linh có hai loại:
 

 
A. Hình giống như cái bát. Mật tông gọi là Bát Vàng, là loại Thiền tông xử dụng sớm nhất

B. Hình giống như cái chuông nhỏ, bên trong có buộc một viên đồng, có cán có lưỡi, rung lên thì kêu vang. Cán của nó hình từ 1 đến 5 vòng gọi là Linh Chử. Là một loại pháp khí thường xữ dụng để chấn khai địa ngục trong trai đàn chẩn tế và giữ nhịp trường canh trong các buổi tụng kinh. Loại này có tên là Kim Cương Linh. Khi xử dụng có hai cái: một âm và một dương.

6/ KHÁNH DẪN:

Hình tròn như cái chén nhỏ, có cán để cầm và dùi để đánh. Thường dùng để thỉnh sư, dẫn chúng niệm Phật kinh hành và giữ nhịp trường canh lúc mới bắt đầu làm lễ.
 

 
7/ TANG:
 

 
Là một pháp khí làm bằng đồng thau, hình tròn, nhỏ bằng cái chén ăn cơm, sâu khoảng 1.50 cm đến 2 cm; phỏng theo hình dáng cái phèn la, buộc thòng vào một vành tròn có cán để cầm bằng 3 sợi dây ở 3 góc đều nhau, dùng một cái dùi bằng tre uốn cong 90 độ để đánh lên khi tán tụng, tang  thường thấy xử dụng ở miền trung Việt Nam (Huế).

7/ ÐẨU:

Hình thể hoàn toàn giống như Tang, nhưng không có cán cầm, mà chỉ nắm trong lòng bàn tay, cái dùi để đánh hình dáng như một chiếc đũa. Thường xử dụng 2 cái: một âm (trầm), một dương (bổng). Loại này thường thấy ở các tỉnh phía nam Trung phần (Bình Ðịnh trở vào) và Nam phần Việt Nam.
 

8/ PHÁP LOA:

Thường goị là Tù Và làm bằng loại vỏ ốc lớn, phiên âm từ tiếng Phạn là Thương Khu dịch nghĩa là Kha Bối (vỏ con Kha nói tắt của chữ Sankha) tức là vỏ ốc, vỏ sò. Tiếng thổi vào vỏ ốc vang đi rất xa, lấy đó để ví với tiếng thuyết pháp của Ðức Phật vang xa bao trùm khắp đại chúng, tiếng thổi vỏ ốc nghe mạnh mẽ, biểu hiệu sự hùng mạnh của đại pháp. Thế tục dùng vỏ ốc thổi làm hiệu lệnh ba quân, cũng ví như lời thuyết pháp của Ðức Phật có sức mạnh hàng phục ma quỷ. Còn như nghi thức thổi vỏ ốc trong Phật sự; Theo Mật Tông giải thích: vỏ ốc có hình Tam Muội Da cuả Ðức Vô Lượng Âm Phật Ðỉnh Tôn là chẩn mực pháp âm của Ðức Phật, nghe tiếng thổi vào vỏ ốc thì Thiên Thần, Chư Thiên đều hoan hỉ mà hưởng ứng, người thế tục nghe tiếng ốc thì diệt trừ được các tội chướng. Do đó trong hình Ðức Phật Quan Âm nghìn cánh tay, có một tay cầm Pháp Loa.
 

Tại các chùa ở Huế - Việt Nam thấy còn xử dụng Pháp Loa (Tù Và: vỏ ốc) vào các tang lễ của quý vị Hòa Thượng, Thượng Tọa, Trú Trì…

Phật giáo Tây Tạng thường dùng Pháp Loa khi hành lễ.

9/ KHÁNH:
 

 
Khánh làm bằng đá, có giá hoặc dây treo, dùng để báo hiệu lệnh trong chuà, hiện tại vẫn còn xử dụng tại các chùa ở Việt Nam.

10/ MỘC BẢN:
 

 
Làm bằng một miếng gỗ, dùng dùi đánh phát ra tiếng để thông báo giờ giấc. Thường treo ở phòng ăn của các chùa

II/ Pháp khí dành riêng cho Chủ Sám và Chứng Minh.

1/ THỦ XÍCH:

Là một thanh gỗ hình khối chữ nhật, kích thước vừa nằm dưới ba ngón tay giữa của lòng bàn tay. Trên lưng Thủ Xích có khắc 3 chữ “Án, Dạ, Hồng” theo tự dạng Pali, dùng để vỗ xuống bàn kinh, thành một hiệu lệnh cho đạo tràng.
 

 
2/ THỦ LƯ:
 

 
Là một cái lư hương có cán để cầm tay, tiếng đời nhà Ðường gọi là Thủ Lô. Thích Thị Yếu Lâm quyển trung ghi: “sách Pháp Uyển: Thiên Nhân Hoàng  Quỳnh nói về lư hương của Ðức Phật Ca Diếp đại để như sau: Phía trước có 16 con sư tử và voi trắng, trên đầu hai loại thú đó nổi lên hai đài sen làm lư. Phía sau có sư tử ngồi, trên đỉnh có 9 con rồng quấn nâng hoa vàng, hoa đó để làm lư. Trong có Kim Ðài Bảo Tử để đựng hương lúc Phật thuyết pháp thường cầm lư này.So sánh xem xét cách chế tác Thủ Lư đời nay cũng có phần mô phỏng theo  phép đó. Trong nghi lễ Phật Giáo Việt Nam, Thủ Lư thường thấy xử dụng trong trai đàn chẩn tế.
 

 
3/ TÍCH TRƯỢNG:

Tích Trượng là một trong 18 món đồ vật của Nhà Sư, còn được mang nhiều tên khác nhau như: Thanh Trượng, Minh Trượng, Trí Trượng, Ðức Trượng…là một cây gậy, ở đầu gậy có những vòng thiếc, khi rung phát ra tiếng.

Xuất xứ: Theo kinh Tích trượng có chép: Này các Tỳ Kheo, các ngươi nên thọ trì tích trượng, vì rằng tích trượng là một pháp khí mà ở đời các Như Lai đã có thọ trì.

Ý nghĩa: Tiếng Phạn gọi là Khiết khí la. Tàu dịch là Tích trượng, tức là cái gậy của các vị Tỳ kheo dùng để đi đường hay đi khất thực.
 

 
Tích trượng còn có tên là Đức trượng, nghĩa là chiếc gậy trí huệ và đức độ nầy mà người xuất gia học đạo giải thoát được vững tiến và hướng đến quả vị giải thoát. Trong kinh Tích trượng có chép:

Ngài Ca Diếp bạch Phật:

Bạch đức Thế Tôn, thế nào gọi là tích trượng? Đức Phật dạy các ý nghĩa sau đây:

- Tích có nghĩa là Khinh, có nghĩa là nhờ chiếc gậy đức hạnh và trí tuệ nầy mà phiền não được nhẹ đi và sớm ra khỏi cảnh sanh tử luân hồi.
- Tích cũng có nghĩa là Minh, nghĩa là được trí huệ sáng suốt, là hết khổ não.

Đường kính của chiếc tích trượng thì vừa đủ cho vòng tay của người xử dụng. Cũng còn được gọi với những tên: Thỉnh trượng hay Minh trượng. Vì, trong khi đến nhà ai, vị sa môn cần gõ tích trượng xuống đất để người trong nhà biết. Trên đầu tích trượng có bốn cái gọng và 12 cái vòng. Đó là biểu tượng cho tứ diệu đế và thập nhị nhơn duyên., buộc các tỳ kheo luôn luôn phải nhớ nghĩ, luôn luôn phải thực hành. Ngoài ra còn có loại tích trượng trên đầu chỉ có hai cái vòng và sáu cái khâu, thì nó tượng trưng cho chơn đế, tục đế và lục độ. Tích trượng nầy do đức Phật Ca Diếp chế ra. Tất cả hai loại tích trượng ấy đều không cao quá đầu người.

Tích rằng: Hiển Giáo dùng gậy khi khất thực và đuổi trùng thú. Tì Nại Da Tạp Sự quyển 34 nói: “Bật Sô đi khất thực vào nhà ai, bèn lên tiếng gọi báo cho biết và nắm tay gõ vào cửa, người nhà lấy làm lạ hỏi: “Tại sao lại gõ cửa nhà tôi?” Nhà Sư im lặng chẳng nói. Ðức Phật bảo: “Ðừng gõ cửa, mà nên làm cây gậy Tích Trượng”; Nhà Sư không hiểu, Ðức Phật nói: “Ở đầu cây gậy có gắn những vòng nhỏ bằng cái chén, khi rung gậy thì phát ra âm thanh để báo cho biết”. Khi đến nhà nào không có lòng tin, rung mãi cây Tích Trượng đến phát mệt, mà nhà ấy không ai ra hỏi, thì Ðức Phật bảo: “Không nên rung lâu cây Tích Trượng, chỉ nên rung 2 hay 3 lần mà thôi, nếu không có người ra hỏi, thì nên đi nơi khác”.Cách làm gậy thì y theo Tích Trượng Kinh.

Tích Trượng của Ðức Phật Ca Diếp có 2 gọng và 12 vòng tượng trưng cho 2 đế thứ nhất và thứ hai là Thế Ðế và Thập Nhị Nhân Duyên.Tích Trượng của Ðức Phật Thích Ca có 4 gọng và 12 vòng tượng trưng cho Tứ Ðế và Thập Nhị Nhân Duyên.

Mật Giáo thì cho đó là cây Thập Pháp Giới do 5 Ðại tạo thành, là Tam Muội Da của Ðức Ðịa Tạng, Quan Âm, nên có 6 vòng tượng trưng cho 6 Ðại. Trên đầu gậy có 5 bánh xe hình tròn tượng trưng cho Bảo Tháp. Phật Giáo Việt Nam thấy xử dụng Tích Trượng trong các lễ: Giải Oan Bạt Ðộ, Tang  Lễ theo ý nghĩa của Mật Giáo.
 

 
Các tích trượng của Bà la môn thì có bảy mắt và có ba bậc: sơ, trung và thượng. Theo phái Bà la môn thì cái gì cũng ở trong số bảy: * Bảy bậc tu, bảy quả đức, bảy sức linh.

Bảy bậc tu gồm:

- Tu tại gia,
- Tu vái các thần thánh thông thường,
- Tu biết biến hóa,
- Tu biết thần biến, linh thiêng,
- Tu cần thần thánh, không mặc quần áo,
- Tu thiền định,
- Tu bậc thượng, làm thầy cả các phép tu trên, là vì nối gót đại diện cho đức Phạm thiên.

Ngày xưa ở Ấn độ, họ thường quan trọng con số bảy, họ cho là huyền vi đến với con người. Cái gì họ cũng dùng và nghĩ đến số bảy như:

- Bảy vị tiên (Sapta-Rchirs),
- Bảy cảnh tiên (Sapta-Poura),
- Bảy hòn đảo tiên (Sapta-Douita),
- Bảy biển (Sapta-Samudra),
- Bảy sông linh (Sapta- Nady),
- Bảy núi linh (Sapta-Pariatta),
- Bảy chúng (Sapta-Coula),
- Bảy cảnh giới từ hạ đến thượng (Sapta-Loca),
- Bảy loại gồm cả trời đất thần thánh như: Jyus, Naranari, Viradji, Brahma, Vischnou-Siva

Riêng trong Phật giáo, ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát đã dùng tích trượng để đi vào địa ngục hướng dẫn cho thập loại chúng sanh đang bị đọa trong các cỏi ấy được hiểu rõ chánh pháp, được giải thoát lên các cảnh giới sung sướng hơn hay trực chỉ đến cảnh giác ngộ thành Phật. Mỗi khi ngài vào trong địa ngục, ngài dùng tích trượng gõ xuống đất thì các cửa ngục được mở ra, cho nên trong kinh có day: Chấn khai địa ngục chi môn.
 

 
Những vị sau khi đã đắc giới, liền được thừa truyền tích trượng. Trong khi nhận lãnh, các vị giới tử thầm niệm kệ chú sau đây:

Thiện tai khiết la,
Trí huệ công đức bổn,
Như pháp thọ trì giả,
Siêu đăng niết bàn ngạn.
Án, na lật thế, na lật thế, na lật tra, bát để, na lật đế, na dạ bát nễ hồng phấn tra (3 lần)


Nghĩa là:

Lành thay chiếc tích trượng,
Gốc công đức, trí huệ,
Thọ trì chư chánh pháp,
Sớm lên bờ niết bàn.
Án, na lật thế, na lật thế, na lật tra, bát để, na lật đế, na dạ bát nễ hồng phấn tra (3 lần)


Trên đây là kệ nhận tích trượng. Còn khi dùng đến thì câu chú y như vậy, nhưng câu kệ thì như sau:

Chấp trì tích trượng,
Đương nguyện chúng sanh,
Thiết đại thí hội,
Thị như thiệt đạo.


Nghĩa là:

Cầm giữ tích trượng,
Xin nguyện chúng sanh,
Thiết đại hội thí,
Chỉ đạo như thật.


4/ MŨ TỲ LƯ:
 

 
Ngày rằm tháng 7, mở hội Vu Lan Bồn, Vị Tăng Thủ Tọa đứng làm Ðức Phật Tỳ Lư, tụng kinh Thí Thực, trên đầu đội mũ có tượng Phật Tỳ Lư nên gọi là mũ Tỳ Lư.

Tỳ Lư là tên gọi tắt của Tỳ Lư Giá Na, tên chung của Pháp Thân Phật, tức là Ðức

Ðại Nhật Như Lai của Mật Giáo.

Phật Giáo Việt Nam, Mũ này các vị Gia Trì Sư thường đội trong Tang lễ hoặc Trai Ðàn Chẩn Tế.
 

 
5/ MŨ HIỆP CHƯỞNG:
 

 
Mũ này giống như hai bàn tay úp lại nên gọi là Hiệp Chưởng, chỉ riêng Phật Giáo Việt Nam mới có, do các vua triều Nguyễn chế ra để tặng cho các vị Tăng cang đội khi vào triều. Sau được dùng phổ cập, các vị Chủ Sám thường đội trong các pháp hội trai đàn.
 

 
6/ MŨ QUAN ÂM:
 

 
Mũ này may theo hình chóp, phủ xuống vai, ngang qua giữa lưng, thường các Ngài Chứng Minh đội trong các lễ đàn .

III/ Pháp Phục

1. Y: Tàu dịch là Ca sa, tức hoại sắc, bất chính sắc. Dùng để chư Tăng mặc. Những vị chính thức được có Y kể từ khi đã thọ giới luật. Sau khi đắc giới, giới sư quyền thừa Phật Tổ để truyền Y cho giới tử. Y cũng có nhiều bậc khác nhau.
 

 
Người thọ mười giới tức là Sa di thập giới: Vị nầy bắt đầu chính thức được ở trong hàng ngũ xuất gia. Những vị thọ mười giới thì chỉ được mặc (mang) chiếc Mạng Y là những chiếc y không có mạng (miếng) nhỏ, tức là Y không có Điều. Khi mặc Mạng y có bài kệ và chú như sau:

Đại tai giải thoát phục
Vô tướng phước điền y,
Phi phụng chư giới hạnh,
Quảng độ chư quần sanh.


Nghĩa là:

Lớn thay áo giải thoát,
Là ruộng phước không tướng,
Mặc kính đúng giới hạnh,
Rộng độ hết chúng sanh.
Nam Mô Ca Sa Tràng Bồ Tát Ma Ha Tát (3lần)


Vị thọ Cụ túc giới cũng gọi là Tỳ kheo giới hay Đại giới, được mặc những chiếc Y có những miếng vuông, thường gọi là Điều y. Y nầy có ba loại khác nhau như sau:

- Áo mặc ở ngoài gọi là Tăng già lê,

- Áo mặc ở giữa gọi là Uất đà la tăng,

- Áo mặc trong, áo lót gọi là An đà hội.

Chiếc áo Tăng già lê cũng có các bậc khác nhau như:

Ngũ điều y, Thất điều y và Đại y

a. Chiếc y có năm miếng thì gọi là Ngũ điều. Khi mặc chiếc y nầy thì đọc bài kệ chú và phát nguyện như sau:

Thiện tai giải thoát phục,
Vô thượng phước điền y,
Ngã kim đảnh đới thọ,
Thế thế bất xả ly.
Án, tất đà da tóa ha (3 lần).


Nghĩa là:

Lành thay áo giải thoát,
Áo ruộng phước vô thượng,
Nay con đầu đội nhận,
Đời đời không lìa bỏ.
Án, tất đà da tóa ha (3 lần)


b. Chiếc y có bảy miếng thì gọi là Thất điều. Khi mặc chiếc y nầy cũng đọc kệ chú và phát nguyện:

Thiện tai giải thoát phục,
Vô thượng phước điền y,
Ngã kim đảnh đới thọ,
Thế thế thường đắc phi.
Án, độ ba độ ba tóa ha (3 lần)


Nghĩa là:

Lành thay áo giải thoát,
Áo ruộng phước vô thượng,
Nay con đầu đội nhận,
Đời đời thường được mặc.
Án, độ ba độ ba tóa ha (3 lần)

 

 
- Chiếc y từ 9 miếng trở lên 25 miếng thì gọi là Đại y. Đại y cũng có ba bậc:

- Chiếc Y có 9 miếng, 11 miếng, 13 miếng thì gọi là Hạ Đại Y,

- Chiếc Y có 15 miếng, 17 miếng, 19 miếng thì gọi là Trung Đại Y,

- Chiếc Y có 21 miếng, 23 miếng, 25 miếng thì gọi là Thượng Đại Y.

Khi mặc (trong thiền môn thì gọi là đắp) ba bậc Đại y trên đây cũng đọc kệ, chú và phát nguyện như nhau, dưới đây:

Thiện tai giải thoát phục,
Vô thượng phước điền y,
Phụng trì Như Lai mạng,
Quảng độ chư chúng sanh.
Án, ma ha bà ba tra tất đế tóa ha (3 lần)


Nghĩa là:

Lành thay áo giải thoát,
Áo ruộng phước vô thượng,
Vâng giữ Như Lai mạng,
Rộng độ hết quần sanh.
Án, ma ha bà ba tra tất đế tóa ha (3 lần)


Những chiếc y nầy đã có từ đời đức Phật. Chiếc y đầu tiên được cúng dường cho chư Tăng là chiếc y của bà Di mẫu của đức Phật (tức là bà Tỳ kheo ni đầu tiên tên Kiều Đàm Di).

Y của chư Tăng được gọi rất nhiều tên: Hoại nạp phục, Hoại sắc phục, Pháp phục, Pháp y, Ứng pháp diệu phục, Liên hoa phục, Giải thoát phục, Giải thoát tràng tướng phục, Xuất thế phục, Ly trần phục, Vô cấu phục, ... Nói chung là Ca sa tràng Như Lai, nghĩa là áo của chư Phật, chính là lòng nhu hòa nhẫn nhục như trong kinh Pháp hoa đã dạy.

2. Bát:
 

Xuất xứ: Trong kinh Phật bổn hạnh có nói: Khi đức Phật còn tại thế, có hai thương gia là Đế ly phú bà và Bạt ly ca đều đều ở phía bắc Ấn độ; hai vị nầy, một hôm đem sữa cúng dường đức Phật, nhưng đức Phật không có đồ đựng. Lúc bấy giờ có bốn vị thiên vương đem bốn cái bát bằng vàng đến dâng cúng đức Phật để đựng sữa, ngài không nhận. Bốn vị thiên vương ấy lại trở về đem bốn cái bát khác bằng những thứ quý: ngọc, ngà, xa cừ, ... để dâng cúng đức Phật, ngài cũng không nhận. Sau cùng bốn vị ấy đem dâng cúng bốn cái bát khác bằng đá, đức Phật rất hoan hỷ.

Ý nghĩa: Chữ Bát, tiếng phạn gọi là Bát đa la, Tàu dịch là Ứng lượng khí. Nghĩa là đồ dùng để chứa đựng các thực phẩm chỉ đủ vừa sức ăn cho một người.

Bình bát chỉ được làm bằng đá, bằng sành, bằng đất sét nung thật chín rồi tráng men bên trong cho khỏi rĩ nước, chứ không được làm bằng vàng bạc hay tất cả những kim khí quý, ... Nếu dùng bằng kim khí quý thì không đúng phẩm hạnh của bậc xuất gia. Các vị đã phát tâm xuất gia tức là tập hạnh xả bỏ tất cả, kể cả thân mạng nếu cần và đúng với chánh pháp, nghĩa là xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo.

Đặc biệt bình bát không nên làm bằng gỗ, vì đây là loại bát của Bà la môn đã thường dùng.
 

 
Ở các nước theo Nguyên Thủy (Nam Truyền) Phật giáo, chư Tăng thường đi khất thực nên thường dùng bình bát. Các nước theo Đại thừa Phật giáo (Bắc truyền) thì không đi khất thực nên chỉ dùng bình bát trong ba tháng an cư kiết hạ, có nơi còn ba tháng kiết đông nữa; đồng thời, thỉnh thoảng có quý thí chủ phát tâm cúng dường trai tăng thì cũng dùng bình bát để cúng Phật trước khi thọ trai. (Việt nam có thêm hệ phái Khất sĩ cũng có đi trì bình khất thực).

Sau khi các vị đã đắc giới, chư giới sư trao truyền bình bát và bắt đầu trì bình từ đó. Mỗi khi dùng bình bát, tâm thường niệm:

Thiện tai Bát đa la,
Như lai ứng lượng khí,
Phụng trì dĩ tư thân,
Trưởng dưỡng trí huệ mạng.
Án, chỉ rị chỉ rị phạ nhựt ra hồng phấn tra (3 lần)


Nghĩa là:

Lành thay bát đa la,
Ứng lượng khí của Phật,
Vâng giữ để tu thân,
Nuôi lớn thân và trí,
Án, chỉ rị chỉ rị phạ nhựt ra hồng phấn tra (3 lần)


Mỗi lần đi khấc thực, tay nâng bình bát đang còn trống không, đức Phật dạy đệ tử của ngài không phiền muộn, không lo lắng mà phải an tịnh và thầm nguyện:

Nhược kiến không bát,
Đương nguyện chúng sanh,
Cứu cánh thanh tịnh,
Không vô phiền não.


Nghĩa là:

Nếu thấy bát không,
Xin nguyện chúng sanh,
Rốt ráo thanh tịnh,
Trống không phiền não.


Và, sau đó thí chủ đã cúng dường phẩm vật đầy đủ, thầm nguyện tiếp như sau:

Nhược kiến mãn bát,
Đương nguyện chúng sanh,
Cụ túc thạnh mãn,
Nhất thế thiện pháp.


Nghĩa là:

Nếu thấy bát đầy,
Xin nguyện chúng sanh,
Chứa đựng đầy đủ,
Tất cả pháp lành.


Mỗi lần dùng bình bát trước và sau khi khất thực hay trước và sau khi thọ trai do tín chủ cúng dường đều phải lau chùi sạch sẽ. Thứ nhất là bát phải sạch sẽ để chứa đựng phẩm vật dâng cúng Tam bảo, kế đến la mình dùng; thứ hai là sau khi dùng xong cũng phải rửa sạch, lau khô để cất giữ cho hợp vệ sinh, cũng thầm niệm bài kệ tẩy bát như sau:

Tẩy bát:

Dĩ thử tấy bát thủy,
Như thiên cam lộ vị,
Thí dữ chư quỷ thần,
Tất giai hoạch bảo mãn
Án, ma hưu ra tất tóa ha (3 lần)


Nghĩa là:

Rửa bát:

Lấy nước rửa bát nầy,
Như nước vị nước cam lồ
Đem cho các quỷ thần,
Được no đủ tất cả.
Án, ma hưu ra tất tóa ha (3 lần)


Cũng như trên, mỗi khi rửa bình bát hoặc là nhận phẩm vật thì cũng phải mở ra; mỗi lần mở ra như vậy, cũng thầm đọc câu kệ chú như sau:
Triển bát:

Như lai ứng lượng khí,
Ngã kim đắc phu triển,
Nguyện cọng nhất thế chúng,
Đẳng tam luân không tịch
Án, tư ma ma ni tóa ha (3 lần)


Nghĩa là:

Mở bát:

Ứng lượng khí của Phật,
Con nay được giải mở,
Nguyện cùng với mọi người,
Ba vầng đều vắng lặng.
Án, tư ma ma ni tóa ha (3 lần)


3. Đãy lọc nước:
 

 
Xuất xứ: Ngày khi đức Phật chứng thành đạo quả, ngài dùng huệ nhãn, xem thấy trong nước có vô số vi trùng (cũng là chúng sanh), ngài liền truyền dạy cho hàng đệ tử, nhất là hàng xuất gia đều phải có một cái túi bằng vải để lọc nước trước khi uống.

Định nghĩa: Đạo Phật là đạo từ bi. Đạo Phật tôn trọng mạng sống. Vì khi uống nước mà không dùng đãy lọc nước để lọc thì mắc phải tội ăn thịt chúng sanh. Chúng sanh được tôn trọng, trên từ bậc thánh nhơn chư Tăng, loài người, dưới đến các loài có chân, không chân hay có cánh, không cánh được giữ gìn, bảo vệ mà không nên sát hại.

Bởi thế cho nên, hàng xuất gia phải dùng những vật thực không liên hệ đến mạng sống của chúng sanh. Một khi đã phát tâm xuất gia, đã được thọ giới thì cần phải có đãy lọc nước. Tàu dịch là Lự thủy nang. Khi nhận thọ thì thầm nguyện:

Thiện tai lự thủy nan,
Hộ sanh hành tự cụ,
Xuất nhập thường đới dụng,
Phương hợp Bồ tát đạo.
Án, phạ tất ba ra ma ni tóa ha (3 lần)


Nghĩa là:

Lành thay đãy lọc nước,
Vật bảo trợ mạng sống,
Ra vào thường dùng đến,
Mới hợp đạo Bồ đề.
Án, phạ tất ba ra ma ni tóa ha (3 lần)


4. Ngọa Cụ:
 

 
Ngọa tức là nằm. Dụng cụ dùng để ngồi nằm. Quý vị xuất gia thường dùng hằng ngày cho nên trong luật Trường hàng gọi là Nhật dụng.

Ngày xưa khi đức Phật còn tại thế, chư Tăng sống không lập chùa, viện, tịnh thất như ngày nay. Trong tay chỉ có bình bát, ba chiếc y, một tích trượng, một đãy lọc nước và một ngọa cụ mà thôi. Đi đâu mang tất cả những pháp phục ấy theo bên mình.

Ngày nay chư Tăng có chùa, có tòng lâm, có Phật học viện, có tu viện, tịnh thất, ... nên ít dùng đến ngọa cụ và tích trượng trừ khi tấn đàn truyền giới và trao giới cho giới tử phát tâm đăng đàn cầu giới pháp để tu. Ngọa cụ cũng được dùng trong lúc đăng đàn chẩn tế, nhưng được gọi là tọa cụ chứ không gọi ngọa cụ như trong luật tiểu. Khi dùng ngọa cụ thì thầm nguyện câu kệ và chú như sau:

Ngọa cụ ni sư đàn,
Trưởng dưỡng tâm miêu tánh,
Triển khai đăng thánh địa,
Phụng trì Như Lai mạng.
Án, a mật lật đế hồng phấn tra (3 lần)


Nghĩa là:

Ngọa cụ (tên) ni sư đàn,
Nuôi lớn lúa tâm tánh,
Mở ra lên đất thánh,
Phụng giử mạng Như Lai,
Án, a mật lật đế hồng phấn tra (3 lần)

 

 
Trên đây là những pháp khí và pháp cụ có từ thời đức Phật đã được tổ tổ thừa truyền cho đến ngày nay. Những gì được viết ra trong bài nầy hoàn toàn gần như chỉ dành riêng cho hàng xuất gia, nhưng phải cần cầu giới pháp, có thọ giới và đã đắc giới. Và tùy theo giới mà thọ dụng khác nhau như: Y, Bát, Tích trượng và Ngọa cụ, .... Ngoài ra, những pháp khí khác thì những vị tân xuất gia và Phật tử tại gia đều có thể dùng được như nhau. Vậy bài nầy quý vị nào trong hàng tại gia được phước báo thọ dụng thì cũng nên tuân theo lời Phật dạy để hành trì đúng như pháp; nếu không thông thuộc, nên y chỉ chư Tăng.
 
 
Tác giả bài viết: Thích Chúc Xuân
 
Trang 1 / 6


Get the Flash Player to see this player.

time2online Extensions: Simple Video Flash Player Module

Hình ảnh

link s6
link s7

Thống kê lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterKhách online96
mod_vvisit_counterHôm qua142
mod_vvisit_counterTổng khách online384680

Your IP: 54.81.78.135
ngày 28 - Tháng 5 - 2018